Select Page
instagram followers instagram likes
Trường ĐH Bách khoa chế tạo thành công nhiều sản phẩm phòng chống SARS-CoV-2

Trường ĐH Bách khoa chế tạo thành công nhiều sản phẩm phòng chống SARS-CoV-2

Nhằm góp sức cùng cả nước phòng chống dịch Covid 19, trong thời gian vừa qua, các đơn vị, cá nhân của Trường ĐH Bách Khoa- ĐHQG-HCM đã nỗ lực trong thiết kế, chế tạo, chuyển giao công nghệ và cả sản xuất hàng loạt để có thể tung ra các sản phẩm đa dạng, hỗ trợ cùng toàn dân phòng chống Covid 19. Trong bối cảnh Việt Nam đã cơ bản kiểm soát được Covid và đã nới lỏng giãn cách xã hội, Trường ĐH Bách Khoa xin tổng kết và giới thiệu các sản phẩm khoa học, công nghệ của Trường đã thiết kế, triển khai và hoàn thiện trong suốt thời gian qua.

Các sản phẩm này là kết quả của quá trình tích lũy kiến thức, kinh nghiệm nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ của nhiều đơn vị trong trường. Khi đất nước cần sự đồng lòng hợp sức trong phòng chống dịch, Trường ĐH Bách Khoa có thể kịp thời tung ra các đóng góp khoa học công nghệ đáng chú ý, điển hình là buồng khử khuẩn di động sử dụng khí sạch của Trung tâm Nghiên cứu Thiết bị và Công nghệ Cơ khí Bách khoa (BK-RECME); Buồng khử khuẩn bề mặt di động, Buồng lấy mẫu và khử khuẩn bề mặt di động, Máy phun dung dịch sát khuẩn rửa tay không tiếp xúc, Máy thở đơn giản của PTN Trọng điểm quốc gia Điều khiển kỹ thuật số và Kỹ thuật hệ thống (DCSELab); Thiết bị dẫn khí của Trung Tâm Nghiên cứu Vật liệu Polymer- Khoa Công Nghệ Vật Liệu chế tạo; Bộ sản phẩm Gel sát khuẩn nhanh, Xịt sát khuẩn nhanh, Rửa tay sát khuẩn của nhóm nghiên cứu BM Kỹ thuật Hoá Hữu cơ – Khoa KT Hoá học, Hệ thống máy sản xuất khẩu trang dùng 1 lần của nhóm nghiên cứu Khoa Cơ khí v.v

SẢN PHẨM TỪ TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU THIẾT BỊ VÀ CÔNG NGHỆ CƠ KHÍ BÁCH KHOA (BK-RECME)

Mới đây, Trung tâm Nghiên cứu Thiết bị và Công nghệ Cơ khí – Trường ĐH Bách khoa đã chế tạo thành công hệ thống khử khuẩn di động chỉ trong 30 giây và thải khí sạch ra bên ngoài. Hệ thống có các bộ lọc khí đầu vào và đầu ra để đảm bảo không khí sạch trước khi vào hệ thống và sau khi thải ra khỏi hệ thống. Công nghệ này đã và đang được ứng dụng tại các phòng thí nghiệm về thiết bị bán dẫn và y học, sử dụng không khí sạch, khí ozone (theo ngưỡng cho phép cho người sử dụng, ion âm).

Trường ĐH Bách khoa chế tạo nhiều sản phẩm phòng chống SAR-CoV-2
Hệ thống khử khuẩn di động từ Trung tâm Nghiên cứu Thiết bị & Công nghệ Cơ khí Bách khoa.

Theo PGS.TS Võ Tường Quân – Giám đốc Trung tâm, điểm đặc biệt của hệ thống là dùng không khí sạch, khí ozne va ion âm để diệt vi khuẩn bám trên bề mặt vật chủ. Công nghệ sử dụng kết hợp giữa nguyên lý hệ thống tắm khí (Air-shower) và kết hợp với các khí có thức năng diệt khuẩn. Hệ thống được vận hành hoàn toàn tự động, hoàn toàn không tiếp xúc trực tiếp với cơ thể người (cửa tự động đóng mở theo hướng vào ra khác nhau)

Ngoài ra, nguồn ion âm trong hệ thống sẽ diệt khuẩn lần 2, hút bụi bẩn sau khi thoát khỏi cơ thể vật chủ nhằm tăng khả năng diệt khuẩn bề mặt. Đầu vào là không khí được cho qua màng lọc trước khi đi vào quạt thổi cao áp. Hệ thống các ống gió, lưu lượng gió được tính toán thiết kế sao cho khí ozone không tác dụng trực tiếp vào mũi người.

Hiện hệ thống đang được chuyển giao thương mại hóa cho các doanh nghiệp liên quan và các đơn vị có nhu cầu, sẵn sàng cho sản xuất hàng loạt.

SẢN PHẨM TỪ PHÒNG THÍ NGHIỆM TRỌNG ĐIỂM QUỐC GIA ĐIỀU KHIỂN SỐ & KỸ THUẬT HỆ THỐNG (DCSELAB)

Buồng khử khuẩn di động do DCSELab kết hợp với Trung tâm Phát triển Khoa học và Công nghệ Trẻ (Thành Đoàn TP. Hồ Chí Minh) chế tạo hoạt động trên nguyên tắc sử dụng dung dịch nước muối ion hóa (Anolyte) dạng sương phun toàn thân nhằm sát khuẩn nhanh bề mặt cơ thể áp dụng các công nghệ khử khuẩn: UV, ozone, nhiệt, dung dịch khử khuẩn. Với thiết kế gồm cảm biến cảm biến phát hiện người và tự động phun; có đèn tính hiệu, hệ thống phun siêu âm 360 không gây ướt và giúp khử khuẩn toàn bộ cơ thể; dung dịch khử khuẩn anloyte đã được pha chế và kiểm định yếu tố an toàn khi sử dụng.

Trường ĐH Bách khoa chế tạo nhiều sản phẩm phòng chống SAR-CoV-2
Buồng khử khuẩn di động do Phòng Thí nghiệm Trọng điểm quốc gia Điều khiển số & Kỹ thuật hệ thống phối hợp chế tạo cùng Trung tâm Phát triển Khoa học & Công nghệ Trẻ (Thành Đoàn TP.HCM).

Buồng lấy mẫu và khử khuẩn bề mặt di động được sử dụng trong việc lấy mẫu bệnh không tiếp xúc giữa đội ngũ y tế và bệnh nhân. Sau khi lấy mẫu, buồng được khử khuẩn trước khi lấy mẫu kế tiếp đảm bảo hạn chế tối đa rủi ro phát tán bệnh ra khu vực lấy mẫu xét nghiệm bệnh. Buồng ứng dụng công nghệ dao động siêu âm lên đến 113kHz, các màng gốm áp điện xé tan liên kết giữa các hạt dung dịch thành kích thước cỡ 10nm, sau đó đẩy chúng bay lên và bao phủ 360 độ trên chủ thể trong buồng nhanh chóng. Công nghệ diệt khuẩn bằng đèn tia cực tím khiến các vi khuẩn, vi rút và động vật nguyên sinh tiếp xúc với bước sóng diệt khuẩn của ánh sáng tia cực tím và không thể sinh sản, phát triển được. Tuy nhiên tia UV không được phép chiếu trực tiếp vào người nên việc chế tạo tự ngắt và hạn chế góc chiếu sẽ không cho phép tia UV gây hại lên bác sỹ và người được lấy mẫu. Bên cạnh đó, công nghệ lọc Hepa kết hợp với UV để diệt khuẩn hoàn toàn lượng virut, vi khuẩn dư còn trong không khí sau khi được hút ra khỏi buồng bệnh.

Trường ĐH Bách khoa chế tạo nhiều sản phẩm phòng chống SAR-CoV-2
Buồng lấy mẫu và khử khuẩn bề mặt di động.

Máy thở đơn giản hoạt động với nguyên lý ép/thả túi ambu một cách tự động để đưa dòng không khí vào phổi bệnh nhân tương ứng với hai pha hít vào và thở ra. Máy trợ thở có hai chế độ hoạt động Volume control và Assist control, hai chế độ hoạt động này có thể tự động chuyển đổi qua lại. Các vật tư thiết bị chính của máy gồm: Túi ambu, động cơ DC servo, bộ điều khiển, cảm biến áp suất vi sai, phổi giả, bình cấp oxy. Sản phẩm đang được hoàn thiện sau nhiều lần chỉnh sửa và hội ý với các BS chuyên khoa bệnh viện Chợ Rẫy và Trường Đại học Y Dược TP.HCM.

Trường ĐH Bách khoa chế tạo nhiều sản phẩm phòng chống SAR-CoV-2
Máy thở đơn giản.

SẢN PHẨM TỪ TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU VẬT LIỆU POLYMER

Theo PGS.TS Huỳnh Đại Phú – Trưởng khoa Công nghệ Vật liệu cho biết trước tình hình bùng phát dịch COVID-19 hiện nay, một trong những vấn đề cấp bách là tình trạng thiếu vật tư trang thiết bị y tế toàn cầu. Đối với bệnh nhân COVID-19, ngoài việc phải đeo khẩu trang, khi bệnh trở nặng thì cần phải thở bằng máy không xâm lấn.  Tuy nhiên, các phương pháp này vẫn còn tiềm ẩn nguy cơ khi thực hiện các thủ thuật điều trị như thủ thuật trên đường thở khi hít phải giọt bắn, hạt khí dung. Từ đó, nguy cơ lây nhiễm cho nhân viên y tế khi làm việc nhiều giờ liên tiếp trong môi trường không có phòng áp lực âm. Đối với đội ngũ y bác sĩ điều trị, việc sử dụng các loại khẩu trang, quần áo bảo hộ, mặt nạ kính bảo vệ, mặt nạ thở để phòng tránh nguy cơ lây nhiễm là vô cùng quan trọng.

Trường ĐH Bách khoa chế tạo nhiều sản phẩm phòng chống SAR-CoV-2
Thiết bị dẫn khí do nhóm nghiên cứu của Trung tâm Nghiên cứu Vật liệu Polymer nghiên cứu chế tạo.

Thiết bị (mặt nạ) dẫn khí do nhóm nghiên cứu của Trung tâm Nghiên cứu Vật liệu Polymer, Khoa Công nghệ Vật liệu do PGS. TS Huỳnh Đại Phú – Trưởng khoa Công nghệ Vật liệu và NCS Nguyễn Thái Hòa đã phối hợp với Bác sĩ Nguyễn Thiên Bình đã nghiên cứu và thiết kế thiết bị y tế kết nối mặt nạ lặn nhằm khắc phục tình trạng trên. Thiết bị gồm có 3 bộ phận được thiết kế để cổng cấp khí vào có thể kết nối với màng lọc khuẩn, không khí trước khi vào mặt nạ sẽ được lọc sạch bảo đảm việc tránh nhiểm chéo. Lưu lượng khí được cấp đủ cho phép y, bác sĩ mang thiết bị này trong nhiều giờ. Cổng khí thở ra qua van một chiều không làm mờ mặt kính ảnh hưởng tầm quan sát, thuận tiện khi thao tác. Thiết kế này cũng cho phép sử dụng làm mặt nạ thở cho bệnh nhân khi thay đổi vị trí van thở ra. Mặt nạ này khắc phục được một số khuyết điểm của mặt nạ mũi miệng trong mùa dịch bệnh.

“Để bảo vệ môi trường, vật liệu dùng để chế tạo của thiết bị này là vật liệu Polymer phân hủy sinh học thân thiện với môi trường”, PGS.TS Huỳnh Đại Phú cho biết thêm. Hiện nhóm đã cung cấp sản phẩm cho bệnh viện Trưng Vương để đội ngũ y, bác sĩ sử dụng trong công tác điều trị cho bệnh nhân.

SẢN PHẨM TỪ BỘ MÔN KỸ THUẬT HOÁ HỮU CƠ

Nhằm ứng phó với tình trang nước rửa tay khan hiếm trên thị trường, nhóm cán bộ và sinh viên BM Kỹ thuật Hoá Hữu cơ –  khoa KT Hoá học trường ĐH Bách khoa đã nhanh chóng pha chế gel sát khuẩn, xịt sát khuẩn, nước rửa tay phòng chống dành cho cán bộ và sinh viên của trường. Các sản phẩm được trang bị tại các vị trí trọng yếu của trường như: đầu các toà nhà (khu vực cầu thang), các phòng họp, phòng tiếp khách… Ngoài ra, trong thời điểm khan hiếm, nhà trường đã pha chế để tặng cho các trường thành viên ĐH Quốc gia HCM và đồng bào các tỉnh phía Bắc.

Trường ĐH Bách khoa chế tạo nhiều sản phẩm phòng chống SAR-CoV-2
Bộ sản phẩm sát khuẩn do Bộ môn Hóa Hữu cơ – Khoa Kỹ thuật Hóa học pha chế.

PGS-TS Lê Thị Hồng Nhan, Trưởng BM Kỹ thuật Hóa Hữu cơ nhà trường, cho biết: “Đây là các sản phẩm tẩy rửa và sát khuẩn thường quy, có tác dụng làm sạch và kháng vi sinh vật có thể gây viêm nhiễm. Trong tình trạng dịch bệnh hô hấp cấp do chủng mới của vi rút Corona gây ra, đây được xem là một trong những giải pháp phòng tránh”. Đây là những bài thực hành đơn giản từ những bài học trên lớp, được xem như một giải pháp trong lúc trên thị trường các sản phẩm diệt khuẩn phòng dịch bệnh đang khan hiếm. Sinh viên trực tiếp thực hiện các thao tác từ chuẩn bị nguyên vật liệu, lên kế hoạch, sản xuất và hoàn thiện sản phẩm. Giảng viên là những người hỗ trợ công thức và kiểm tra chất lượng sản phẩm.

SẢN PHẨM TỪ NHÓM GIẢNG VIÊN KHOA CƠ KHÍ

Máy tự động tạo thân khẩu trang y tế và hàn quai siêu âm đơn điểm do nhóm giảng viên khoa Cơ khí nghiên cứu thực hiện. Năng suất một máy tự động tạo thân có thể đạt tối đa 90 cái/phút, trong khi năng suất máy hàn quai siêu âm đơn điểm chỉ đạt 15 cái/phút. Do đó, để đảm bảo năng suất đồng bộ, một máy tạo thân sẽ đi kèm với sáu máy hàn quai siêu âm. Trong thiết kế này, khẩu trang y tế từ 3 đến 5 lớp đều có thể tạo ra được tùy vào số cuộn vải đưa vào. Một trong các lớp vải này là lớp vải lọc hay còn gọi là vải kháng khuẩn. Ưu điểm vượt trội của thiết kế này chính là chỉ sử dụng một hệ siêu âm, so với các thiết kế trước đây phải sử dụng đến hai hệ siêu âm tần số 20kHz. Sản phẩm của nhóm PGS.TS Nguyễn Hữu Lộc, Trưởng Khoa và TS. Nguyễn Thanh Hải, chủ nhiệm Bộ môn Thiết bị và công nghệ vật liệu cơ khí.

Trường ĐH Bách khoa chế tạo nhiều sản phẩm phòng chống SAR-CoV-2
Máy tự động tạo thân khẩu trang y tế và hàn quai siêu âm đơn điểm do nhóm giảng viên Khoa Cơ khí nghiên cứu thực hiện.

Ngoài các sản phẩm nói trên, các giảng viên, sinh viên của trường còn có nhiều sản phẩm đa dạng thiết thực khác để hỗ trợ công tác phòng chống dịch Covid-19 như kính chắn giọt bắn (có khả năng chống bụi, giúp tránh và ngăn ngừa tối đa dịch bắn, giọt bắn từ hắt hơi, ho; tăng cường lớp bảo vệ), quai đeo khẩu trang, móc vào quai làm giảm áp lực lên tai, các sản phẩm này đều sử dụng công nghệ in 3D do nhóm nghiên cứu công nghệ in 3D (ThS. Huỳnh Hữu Nghị, Khoa Cơ Khí).

Phòng Quản trị Thương hiệu & Truyền thông Trường ĐH Bách khoa

Máy trợ thở “made in BK”

Máy trợ thở “made in BK”

Sản phẩm do Phòng Thí nghiệm trọng điểm quốc gia Điều khiển số & Kỹ thuật hệ thống (DSCELAB) – Trường ĐH Bách khoa thực hiện.

Mô hình máy trợ thở do DCSELAB (Trường ĐH Bách khoa) sản xuất.

Theo DCSELAB, sản phẩm được xây dựng dựa trên bản thiết kế mở (miễn phí) do nhóm nghiên cứu gồm các bác sĩ và các kỹ sư cơ khí, điện tử, máy tính thuộc Học viện Công nghệ Massachusetts (MIT, Mỹ) công bố vào cuối tháng 3/2020.

Một trong những vấn đề nghiêm trọng mà các bệnh viện gặp phải trong đại dịch SARS-CoV-2, đó là sự thiếu hụt máy trợ thở, còn gọi là máy thông khí cơ học. Đây là thiết bị y tế tối cần thiết giúp bệnh nhân suy hô hấp trao đổi oxygen và carbonic khi họ không thể tự hít thở được nữa.

Chiếc máy này vốn là một dự án dang dở trên giấy cách đây 10 năm do các sinh viên bộ môn Thiết kế Thiết bị y tế (Medical Device Design) của trường sáng tạo như một bài tập thực hành kết thúc môn học. Họ đã xuất bản một bài báo khoa học chi tiết về bản thiết kế và thử nghiệm này.

Đến nay, nhóm nghiên cứu MIT tin rằng công trình khoa học sinh viên này đã đến lúc phải được ứng dụng.

Thiết bị của MIT bao gồm:

  • 01 bóng Ambu (bóng thở bóp tay mà các bác sĩ/ y tá thường sử dụng trong trường hợp cấp cứu bệnh nhân ở hiện trường tai nạn, nơi không có sẵn máy trợ thở)
  • 01 ống nội khí quản đặt vô cổ họng bệnh nhân
Máy trợ thở phiên bản gốc của nhóm nghiên cứu MIT.

Thông thường, một bệnh nhân nhiễm SARS-CoV-2 sẽ cần thở máy khoảng hai tuần. Nếu bóp bóng Ambu bằng tay, nhân viên y tế sẽ phải ngồi trực liên tục bên cạnh họ. Quả bóng cũng cần phải bóp hàng triệu lần, mỗi lần đều phải đúng kỹ thuật và chỉ có các y sĩ lành nghề mới có thể đảm nhận được công việc này. Do đó, máy trợ thở của MIT đáp ứng được đòi hỏi cơ học: bắt bước kỹ thuật bóp bóng của nhân viên y tế.

Tuy nhiên, bóng Ambu nếu bị rách hoặc bể giữa chừng thì bệnh nhân ngay lập tức sẽ rơi vô tình trạng nguy hiểm. Đó là lý do nhóm nghiên cứu MIT cần một sự hợp tác toàn diện từ các bác sĩ lành nghề cùng các kỹ sư cơ khí, điện tử và máy tính để đảm bảo cỗ máy hoạt động được tốt nhất.

Nhóm MIT cũng khuyến cáo rằng đây không phải là một thiết bị mà người nghiệp dư có thể tự làm tại nhà. Nó đòi hỏi sự hiểu biết chuyên sâu về giao diện kỹ thuật lâm sàng và khả năng thiết kế bám sát các hướng dẫn và thông số mà nhóm MIT đã đưa ra, dựa trên tiêu chuẩn ngặt nghèo Cục Quản lý Dược phẩm & Thực phẩm Hoa Kỳ (FDA). Đồng thời, nếu được sử dụng phải có sự giám sát của bác sĩ lâm sàng.

Theo MIT, trị giá của máy chỉ khoảng 100 USD, tương đương 2,4 triệu đồng). (Lưu ý của người viết: máy trợ thở khác với máy ECMO – thiết bị hỗ trợ oxy hóa máu bằng màng ngoài cơ thể, giá thành rất cao, lên tới 50.000 USD/máy, tương đương 1,2 tỉ đồng.)

Có thể nói, cuộc chiến phòng chống SARS-CoV-2 đã thúc đẩy nhiều nỗ lực và sáng kiến thiết thực trong cộng đồng y học và khoa học kỹ thuật khắp nơi trên thế giới, mà Trường ĐH Bách khoa (ĐH Quốc gia TP.HCM) không nằm ngoài xu thế tích cực này. Trước đó, DCSELAB cũng đã phát triển thành công buồng khử khuẩn dùng công nghệ siêu âm run, không gây ướt người, đã được ứng dụng sơ khởi tại Thành đoàn TP.HCM và Viện Y Dược học dân tộc TP.HCM

Nhóm nghiên cứu DCSELAB cho biết thêm, máy trợ thở phiên bản “BK hóa” đang chờ các chuyên gia xem xét và đánh giá để có thể được đưa vào sản xuất khi có nhu cầu.

THI CA tổng hợp từ DCSELAB, MIT, Cafebiz

Bách khoa ra mắt máy sản xuất khẩu trang y tế

Bách khoa ra mắt máy sản xuất khẩu trang y tế

Khoa Cơ Khí – Trường ĐH Bách Khoa (ĐHQG TP.HCM) đã chế tạo thành công hệ thống sản xuất khẩu trang y tế hiệu suất cao, đáp ứng nhu cầu cấp thiết của xã hội trong giai đoạn dịch COVID-19 bùng phát dữ dội.

Nhóm nghiên cứu chế tạo gồm: PGS.TS. Nguyễn Hữu Lộc (giữa) và TS. Nguyễn Thanh Hải (phải) bên máy tạo thân khẩu trang y tế. – Hình: Cơ khí Bách Khoa

Trường ĐH Bách Khoa là một trong những đơn vị đi đầu trong việc nghiên cứu, ứng dụng chuyên môn tạo ra những sản phẩm thực tiễn. Ngay từ những ngày đầu bùng phát dịch COVID-19, Khoa Kỹ thuật Hóa học đã chế tạo dung dịch sát khuẩn nhanh, kịp thời phân phát cho sinh viên và cán bộ công nhân viên Trường ĐH Bách Khoa.

Mang khẩu trang là yêu cầu bắt buộc hiện nay để hạn chế lây nhiễm dịch COVID-19, vì vậy nguồn cung không đủ cầu dẫn đến sự khủng hoảng và hoang mang cho người dân. Bên cạnh đó, các cơ sở sản xuất nhỏ lẻ không đáp ứng được nhu cầu thị trường.

Theo PGS.TS. Nguyễn Hữu Lộc – Trưởng Khoa Cơ khí, từ đầu tháng 2/2020, khi tình hình dịch COVID-19 tại TP.HCM chưa mang tính thời sự, khoa đã họp khẩn các giảng viên chủ chốt để triển khai dự án thiết kế và chế tạo máy sản xuất khẩu trang y tế cho cộng đồng.

“Chúng tôi tự ví đây như một nhiệm vụ cấp thiết bởi quy mô sản xuất phải đảm bảo sao cho tiết kiệm thời gian và tối ưu chi phí nhất có thể. Đặc biệt là trước trình trạng thiếu hụt nguồn cung trầm trọng, thậm chí một số cá nhân, doanh nghiệp lợi dụng dịch bệnh để trục lợi từ sản phẩm này” – thầy Lộc chia sẻ.

Bản thiết kế máy tự động tạo thân khẩu trang y tế. – Hình: Cơ khí Bách Khoa

Sau khi thống nhất, khoa quyết định chọn phương án thiết kế máy tự động tạo thân khẩu trang y tế (phần xếp ly hình chữ nhật) và hàn siêu âm đơn điểm. Máy tự tạo thân khẩu trang y tế được thiết kế bằng phần mềm chuyên dụng mà bất kỳ sinh viên nào cũng được học.

Ban đầu, năng suất máy tạo thân khẩu trang có thể đạt tối đa 90 cái/phút. Tuy nhiên, máy hàn quai siêu âm chỉ đạt 15 cái/phút. Vì vậy, đội ngũ giảng viên tiếp tục nghiên cứu đồng bộ máy tạo thân và máy hàn quai siêu âm để đảm bảo năng suất ổn định. Trong thiết kế này, tùy theo số lượng cuộn vải kháng khuẩn đưa vào, sản phẩm đầu ra là khẩu trang từ ba đến năm lớp. Điểm nổi bật nhất của thiết kế này là chỉ sử dụng một hệ siêu âm thay vì hai hệ siêu âm tần số 20 kHz so với trước đây.

Hệ hàn siêu âm tần số 20 kHz và công nghệ hàn siêu âm được nhóm nghiên cứu của Khoa Cơ Khí chế tạo thành công từ năm 2018. Đây là kết quả từ 2 đề tài “Nghiên cứu chế tạo khuôn hàn siêu âm ứng dụng hàn vải không dệt” (2015) và “Nghiên cứu công nghệ và thiết bị hàn siêu âm ứng dụng hàn các chi tiết nhựa nhiệt dẻo” (2016) do nhóm nghiên cứu của TS. Nguyễn Thanh Hải thực hiện, Trường ĐH Bách Khoa và ĐHQG TP.HCM cấp kinh phí.

may-han-quai-sieu-am-thuc-te-truong-dh-bach-khoa
Máy hàn quai siêu âm. – Hình: Cơ khí Bách Khoa

PGS.TS. Nguyễn Hữu Lộc cho biết thêm, khẩu trang y tế cơ bản được tạo thành bởi các lớp vải không dệt và lớp vải lọc kháng khuẩn. Vải không dệt và vải lọc kháng khuẩn đều làm từ nhựa có thành phần chính là polypropylene với công nghệ khác nhau. Do đó, để hàn được các lớp vải này với nhau, công nghệ hàn siêu âm là lựa chọn phù hợp.

Có thể nói, trong thời gian ngắn, đội ngũ giảng viên, cán bộ nhân viên Khoa Cơ khí đã chung tay tạo ra sản phẩm hữu ích, phục vụ nhu cầu cộng đồng. Đây là niềm tự hào của Khoa Cơ khí nói riêng và Trường ĐH Bách khoa nói chung, thể hiện trách nhiệm của nhà trường đối với xã hội.

Thầy Lộc cũng lưu ý, hiện hệ thống máy sản xuất khẩu trang y tế đã chạy thử nghiệm thành công và khoa sẵn sàng chuyển giao cho các doanh nghiệp để sản xuất đại trà.

Năm 2020, Trường ĐH Bách Khoa (ĐHQG-HCM) tuyển sinh chương trình Chất lượng cao các ngành thuộc Khoa Cơ khí Chương trình Chất lượng cao giảng dạy 100% bằng tiếng Anh, bằng tốt nghiệp do Trường ĐH Bách Khoa cấp.

GIA NGHI tổng hợp từ HCMUT, VNU-HCM

SV Bách khoa dùng oxide graphene biến chất thải dệt nhuộm thành khí và nước

SV Bách khoa dùng oxide graphene biến chất thải dệt nhuộm thành khí và nước

Theo đó, oxide graphene được dùng để thay thế quy trình “keo tụ tạo bông” vốn sử dụng hóa chất và tạo ra chất thải rắn tại các cơ sở dệt nhuộm tại TP.HCM.

Theo đó, oxide graphene được dùng để thay thế quy trình “keo tụ tạo bông” vốn sử dụng hóa chất và tạo ra chất thải rắn tại các cơ sở dệt nhuộm tại TP.HCM.

Oxide graphene có khả năng tự hấp thụ các chất màu trên bề mặt vật liệu và chỉ thải ra khí carbonic (CO2) và nước (H2O) nên rất thân thiện với môi trường.

BA CON HẺM GẦN NHAU CHỨA TỚI 30 CƠ SỞ DỆT NHUỘM

Đại diện nhóm nghiên cứu, Phùng Ngọc Bảo Long, SV K2018 chương trình Chất lượng cao, ngành Kỹ thuật Hóa học (Trường ĐH Bách khoa), cho biết dệt nhuộm là ngành công nghiệp gây nhiều ô nhiễm nhất cho môi trường – chỉ đứng sau ngành nông nghiệp. Nước thải từ hoạt động dệt nhuộm có chứa nhiều chất hữu cơ độc hại, có thể gây bệnh ung thư, các bệnh lý về nội tạng, thậm chí là cách bệnh về não bộ của con người.

SVBK lam graphene xu ly chat thai det nhuom

Phùng Ngọc Bảo Long và hộp đựng mẫu oxide graphene dạng bột do nhóm nghiên cứu tổng hợp thành. – Hình: HÀ THẾ AN

Long chia sẻ, khảo sát gần đây của một tờ báo nước ngoài cho thấy có tới 80% các cơ sở dệt nhuộm tại Việt Nam vi phạm một hoặc nhiều các quy định về môi trường. Nhiều cơ sở dệt nhuộm thậm chí còn không có hệ thống xử lý chất thải. Cơ sở có hệ thống xử lý chất thải lại sử dụng quy trình “keo tụ tạo bông” tạo ra các loại bùn thải, khi đưa ra môi trường thì vẫn không đảm bảo an toàn.

Không dừng lại ở lý thuyết suông, nhóm đã tiến hành trực tiếp khảo sát tại các điểm đen môi trường tại TP.HCM, nơi có sự hiện diện hàng chục cơ sở dệt nhuộm. Nhóm đã đến khu vực Kênh Tham Lương (Q.12, TP.HCM) và ghi nhận được chỉ trong ba con hẻm (mỗi hẻm cách nhau 50 mét) có tới gần 30 cơ sở dệt nhuộm.

“Nước thải dệt nhuộm đổ xuống kênh làm dòng nước đen ngòm. Nhóm đã phỏng vấn nhiều người dân và họ tỏ ra rất bức xúc vì nhiều năm phải chịu mùi hôi, ảnh hưởng đến cuộc sống và sinh hoạt.” – Long kể lại.

Nhóm cho rằng, hiện nay đa số các cơ sở dệt nhuộm tại TP.HCM ở quy mô vừa và nhỏ, nên các chủ cơ sở không có điều kiện để đầu tư công nghệ trong việc xử lý chất thải. Cơ sở có xử lý chất thải lại sử dụng công nghệ “keo tụ tạo bông” tạo ra bùn thải. Vì thế, nhóm đã đưa ra ý tưởng xây dựng quy trình công nghệ với giá thành rẻ và thân thiện với môi trường.

BIẾN CHẤT THẢI THÀNH KHÍ CARBONIC VÀ NƯỚC

Sau nhiều tháng làm việc tại Phòng Thí nghiệm trọng điểm ĐHQG Công nghệ hóa học & Dầu khí (CEPP), Long và các thành viên nhóm nghiên cứu đã đề xuất sử dụng một dạng oxide graphene (tổng hợp tử graphene) kết hợp với một số vật liệu vô cơ nhằm thay thế quy trình “keo tụ tạo bông” tại các cơ sở dệt nhuộm.

Oxide graphene khi được sử dụng có thể hấp thụ các chất màu trên bề mặt vật liệu và chỉ thải ra khí carbonic (CO2) và nước (H2O) .

Dự án này đã xuất sắc đoạt giải Nhất cuộc thi Bách Khoa Innovation 2019. Hình: OISP

Lê Minh Duy, thành viên nhóm, cho biết nhóm đã thực nghiệm tính hiệu quả của oxide graphene bằng việc thí nghiệm sử dụng một ống cao có chứa nước thải chất màu dệt nhuộm. Sau đó nhóm đưa oxide graphene (dạng bột) vào nước thải để xảy ra phản ứng hóa học, đồng thời chiếu tia UV nhằm tối ưu hóa quá trình này. Kết quả nhóm thu được lượng khí CO2 và nước cùng một số ít chất khác. Lượng khí CO2 này sẽ được thu lại để tái sử dụng làm nguyên liệu sản xuất trong một số ngành công nghiệp.

Từ đó, nhóm đưa ra kết luận, việc sử dụng oxide graphene trong xử lý chất thải tại các cơ sở dệt nhuộm có hiệu suất 96% so với 86% của quá trình keo tụ tạo bông. Ngoài ra, công nghệ mới không tốn diện tích đất (làm bể), cắt giảm nhiều công đoạn xử lý nước thải…

“Mặc dù chi phí cho công nghệ xử dụng oxide graphene cao hơn nhưng vì hiệu suất tối ưu hơn, ít tốn diện tích, thân thiện với môi trường hơn, cắt giảm nhiều công đoạn nên có thể nói công nghệ của nhóm nghiên cứu có thể giảm 50% chi phí so với phương pháp cũ.” – Duy chia sẻ.

Hiện tại, nhóm đang tiếp tục hoàn thiện công nghệ này và sẽ đăng ký bằng độc quyền sáng chế. Theo nhóm, trong tương lai sẽ tiến hành thực nghiệm trực tiếp tại các cơ sở dệt nhuộm để đánh giá chính xác nhất tính hiệu quả, bền vững của dự án.

Sản phẩm oxide graphene của nhóm đã xuất sắc giành giải Nhất cuộc thi Bách Khoa Innovation 2019 do Trường ĐH Bách khoa (ĐHQG-HCM) tổ chức vào tháng Sáu vừa qua. Bốn sinh viên thực hiện đề tài là: Phùng Ngọc Bảo Long, Lê Minh Duy, Nguyễn Nhật Minh, Đường Châu Uyên Nhi – đều là SV chương trình Chất lượng cao, ngành Kỹ thuật Hóa học và Công nghệ Thực phẩm của trường.

Video clip ghi lại quá trình nghiên cứu sản phẩm của nhóm. – Clip: nanoC.A.T

HÀ THẾ AN (Khám phá)

Vật liệu nano xử lý nước thải dệt nhuộm lên ngôi Bách Khoa Innovation 2019

Vật liệu nano xử lý nước thải dệt nhuộm lên ngôi Bách Khoa Innovation 2019

Vòng Chung kết cuộc thi Bách Khoa Innovation 2019 vừa diễn ra vào Chủ Nhật 30/6 tại Trường ĐH Bách Khoa (ĐHQG-HCM).

Vòng Chung kết cuộc thi Bách Khoa Innovation 2019 vừa diễn ra vào Chủ Nhật 30/6 tại Trường ĐH Bách Khoa (ĐHQG-HCM).

Đây là thành quả nghiên cứu khoa học của nhóm KingBlue gồm bốn bạn Phùng Ngọc Bảo Long, Lê Minh Duy, Nguyễn Nhật Minh, Dương Châu Uyên Nhi – SV K2018 Chương trình Chất lượng cao, ngành Kỹ thuật Hóa họcCông nghệ Thực phẩm, Trường ĐH Bách Khoa.

Trước thực trạng ngành dệt nhuộm và nước thải của nó gây ô nhiễm đáng kể cho môi trường (hàm lượng chất hữu cơ cao, khó phân hủy, pH 9-12 do chưa các chất tẩy…), nhóm KingBlue đã nghiên cứu, tìm tòi ra giải pháp sáng tạo mới mang tên NanoC.A.T. Đây là vật liệu nano xử lý nước thải dệt nhuộm, vừa kinh tế, vừa thân thiện với môi trường.

Nhóm KingBlue nói về ý tưởng và quá trình nghiên cứu NanoC.A.T.

Sản phẩm này đã giúp nhóm KingBlue đoạt Giải Nhất cuộc thi Bách Khoa Innovation 2019. Năm thứ hai tổ chức, cuộc thi đã thu hút 261 sinh viên tham gia tranh tài qua 68 dự án, 5 doanh nghiệp tài trợ (TMA Solutions, CBS Vietnam, Mai Trần ITC, FPT Software HCM, Robert Bosch Engineering & Business Solutions Vietnam)

Bach Khoa Innovation 2019 CK 02

Nhóm KingBlue đăng quang Giải Nhất cuộc thi Bách Khoa Innovation 2019.

Kết quả chung cuộc:

Nhóm Trưởng nhóm Đề tài Giải
KingBlue Phùng Ngọc Bảo Long NanoC.A.T. I
HAPPY HOUSE Đỗ Đức Nam Smart Barrier II
UVI Nguyễn Đức Huy Hưng Germicidal Wavelengths (GW) II
BLUEWAVE Lê Văn Hoàng Phương Indoor Positioning System for Hospitals III
Barley Võ Ngọc Khánh Linh Barley III
 

Bách Khoa Innovation là cuộc thi đổi mới – sáng tạo dành cho sinh viên Bách Khoa các chương trình đào tạo quốc tế nói riêng cũng như toàn trường nói chung, được tổ chức lần đầu tiên vào 2018. Đặc biệt, ngôn ngữ trình bày và phản biện hoàn toàn bằng tiếng Anh. Đây là sân chơi để sinh viên Bách Khoa Quốc tế cọ xát và hiện thực hóa các ý tưởng, mô hình sáng tạo khởi nghiệp, các nghiên cứu khoa học. Qua đó, giải quyết các nhu cầu thực tế của xã hội bằng các giải pháp kỹ thuật, công nghệ và quản trị; đồng thời kết nối sinh viên Bách Khoa với nhau và với các doanh nghiệp, nhà đầu tư.

Bach Khoa Innovation 2019 CK 01

Các đội vào top 20 tại Vòng Chung kết Bách Khoa Innovation 2019.

 

Tin, ảnh: NGHĨA NGUYỄN

Thuyền không người lái của SV Bách khoa

Thuyền không người lái của SV Bách khoa

Sản phẩm nghiên cứu khoa học của nhóm SV Điện – Điện tử, nhằm giúp quan trắc môi trường nước tự động.

Sản phẩm nghiên cứu khoa học của nhóm SV Điện – Điện tử, nhằm giúp quan trắc môi trường nước tự động.

Thuyen khong nguoi lai 01

Sản phẩm thuyền không người lái dùng trong quan trắc môi trường nước. – Ảnh: HOA NỮ

Nhóm sinh viên sáng chế ra thuyền không người lái gồm: Nguyễn Đăng Khoa, Bùi Quốc ChiếnĐặng Cao Cường, đang theo học chuyên ngành Tự động hóa, Khoa Điện – Điện tử, Trường ĐH Bách khoa (ĐHQG-HCM). Cả ba đang nghiên cứu tại VIAM Lab – Phòng thí nghiệm Điều khiển tự động & Cơ Điện tử (thuộc Trường ĐH Bách khoa).

ĐO NHANH, LIÊN TỤC, CHÍNH XÁC, ÍT TỐN KÉM NHÂN LỰC

Hiện nay, việc quan trắc, khảo sát tình trạng ô nhiễm nguồn nước sông hồ, kênh rạch hầu hết được thực hiện thủ công nên tính cơ động và liên tục không cao. Trước thực trạng đó, nhóm sinh viên Khoa – Chiến – Cường đã tìm tòi, nghiên cứu thực hiện sản phẩm thuyền không người lái (USV – Unmanned Space Vehicle) để hỗ trợ quá trình này.

“Đo nhanh, trực tiếp và liên tục trên diện rộng; mức độ tự động hóa cao, tiết kiệm chi phí đầu tư và vận hành để quan trắc, sử dụng ít nhân lực; tất cả các dữ liệu quan trắc được thu thập trên diện rộng theo quỹ đạo định trước, đồng bộ với lịch trình lấy mẫu chung đã đề ra trước đó, giúp việc quan trắc đạt độ chính xác cao và liên tục trong thời gian khảo sát.” – Khoa tự hào khi nhắc về những ưu điểm mà sản phẩm của nhóm làm được.

BỀN BỈ, THÍCH NGHI NHIỀU ĐIỀU KIỆN MÔI TRƯỜNG VÀ KHÍ HẬU

Chiếc thuyền của nhóm hai thân, giúp hạn chế không bị lật úp, bảo vệ các thiết bị trên thuyền. Không những thế, độ rung lắc thấp cũng là một yếu tố cơ bản giúp đảm bảo các thiết bị cảm biến trên tàu hoạt động chính xác và lâu dài. Không gian trên chiếc “USV hai thân” này cũng rộng hơn, cho phép bố trí nhiều thiết bị hơn, phù hợp với nhiều nhiệm vụ khác nhau.

“Thân tàu được làm bằng vật liệu composite với các ưu điểm: nhẹ hơn khoảng 50% trọng lượng tàu gỗ hoặc thép cùng cỡ; độ bền cao, dẻo dai, có khả năng chịu va đập cao nhờ module đàn hồi thấp; không bị rỉ sét, không bị tác động bởi muối hoặc hóa chất, thích hợp hoạt động trong nhiều môi trường nước khác nhau (kể cả biển); chi phí bảo trì thấp.” – Khoa giải thích cặn kẽ về vật liệu được nhóm sử dụng làm thuyền. 

Thuyen khong nguoi lai 02

Nhóm tác giả và chiếc thuyền không người lái tại cuộc thi Eureka 2018. – Ảnh: HOA NỮ

Về phần mềm, nhóm xây dựng được giải thuật điều khiển và dẫn đường với sai số thấp, độ chính xác cao. Hiện tại, thuyền có hai chế độ điều khiển là bằng tay hoặc tự động di chuyển theo lộ trình được xác định trên Google Map. Nhóm sử dụng:

  • Module GPS RTK nên có thể nhận được vị trí của thuyền với độ chính xác cao hơn so với GPS thông thường

  • Cảm biến gia tốc góc IMU để điều khiển góc xoay của tàu

  • Module thu phát RF để truyền nhận dữ liệu từ xa (tốc độ tối đa 250 kbps, đường kính ngoài trời 1,6 km)

ỨNG DỤNG TUẦN TRA, TÌM KIẾM, CỨU NẠN TRÊN BIỂN

Nhóm mong muốn, trong tương lai, với việc trang bị các cảm biến và nhiều thiết bị chuyên dụng khác, “USV hai thân” có thể mở rộng phạm vi ứng dụng sang các lĩnh vực: đo độ mặn nước, nhiệt độ nước; hàm lượng CO2 trong không khí và biển; áp suất khí quyển, chiều cao sóng, tốc độ gió; theo dõi cá, quan sát bằng hình ảnh, âm thanh dưới nước; đo tràn dầu, ô nhiễm; khảo sát, theo dõi, lập bản đồ đường biển; tuần tra, cứu hộ và phòng vệ trên biển.

THI CA tổng hợp từ Thanh Niên

Áo chống nắng bằng xơ tre của SV Bách khoa

Áo chống nắng bằng xơ tre của SV Bách khoa

Ngoài chống tia cực tím, áo còn có thể dùng làm trang phục thời trang/ thể thao, túi xách.

Ngoài chống tia cực tím, áo còn có thể dùng làm trang phục thời trang/ thể thao, túi xách.

Ao chong nang xo dua Bach khoa 01

Hai mẫu áo chống nắng đa năng làm từ xơ tre kháng UV tự nhiên. – Hình: TƯỜNG HÂN

Hiện nay, các loại áo chống nắng trên thị trường đa phần có kiểu dáng thùng thình, kém thẩm mỹ, thậm chí còn gây cản trở tầm nhìn – gây nguy hiểm cho người mặc khi chạy xe.

Để khắc phục tình trạng đó, nhóm nghiên cứu của sinh viên Phan Ngọc Hưng – Khoa Cơ khí, Trường ĐH Bách khoa (ĐHQG-HCM) đã thiết kế ra chiếc áo chống nắng đa năng với tên gọi “Trang phục tuyệt vời cho phụ nữ miền nhiệt đới”.

Áo được thiết kế dạng hoodie (áo thun chui đầu, tay dài, có nón trùm đầu) được giới trẻ ưa chuộng. Ngày nắng, mặc hoodie vào. Tới chỗ râm, chỉ mất vài thao tác, hoodie “hô biến” thành áo thun cổ tròn. Đặc biệt, phần tay áo khi tháo ra có thể dùng làm giỏ xách.

Sản phẩm gồm hai lớp: lớp vải từ xơ tre có tác chống tia UV (cực tím), và lớp vải hiệu năng cao dùng trong trang phục thể thao.

“Hiện tại, các trang phục chống nắng được phủ lớp nano TiO2 có thể bị phai dần sau nhiều lần giặt. Xơ tre là vật liệu có công năng kháng UV tự nhiên, càng giặt thì các sợi vải càng chống nắng tốt hơn, tính chất không giảm theo thời gian.” – đại diện nhóm nghiên cứu chia sẻ.

Tre lại là vật liệu phổ biến, dễ tìm ở Việt Nam. Bước đầu thử nghiệm, do sản lượng ít nên chi phí chế tác khoảng 200-300 ngàn đồng. Nếu được đưa vào sản xuất đại trà, giá thành sẽ còn giảm.

Ao chong nang xo dua Bach khoa 02

Đại diện nhóm nghiên cứu sinh viên Bách khoa thuyết trình về công năng của sản phẩm. – Hình: TƯỜNG HÂN

Mẫu áo này nhận được nhiều sự quan tâm và đánh giá tích cực tại triển lãm Vòng Chung kết EPICS 2018 do Cơ quan Phát triển quốc tế Hoa Kỳ (USAID) tổ chức, thí điểm cho sinh viên bốn trường: Trường ĐH Bách khoa (ĐHQG-HCM), Trường ĐH Bách khoa (ĐH Đà Nẵng), Trường ĐH Công nghiệp TP.HCM, Trường ĐH Lạc Hồng.

Không chỉ đơn thuần sáng tạo ra sản phẩm kỹ thuật – công nghệ phục vụ cộng đồng, nhóm còn phải cho thấy được tính ứng dụng của nghiên cứu thông qua quá trình thử nghiệm và tìm hiểu thị trường.

Cùng với áo chống nắng bằng xơ tre của sinh viên Bách khoa, EPICS còn thu hút nhiều dự án khả thi khác như: giường thông minh giúp nâng đỡ người bệnh, khóa chống trộm balô giá rẻ, thiết bị cảnh báo khoảng cách an toàn cho mắt khi xài máy tính, vườn rau thông minh cho bếp ăn từ thiện…

EPICS là dự án của chính phủ Mỹ, nhằm thúc đẩy sinh viên Việt Nam nhóm ngành STEM (khoa học, công nghệ, kỹ thuật, tính toán) học đi đôi với hành, nghiên cứu – sáng tạo ra các giải pháp kỹ thuật có ích cho cộng đồng.
 

THI CA tổng hợp

Ứng dụng ngừa bệnh văn phòng của SV BK-OISP

Ứng dụng ngừa bệnh văn phòng của SV BK-OISP

Mind Your Neck là ứng dụng giúp ngăn ngừa các bệnh về cổ và cột sống. “Chủ xị” nghiên cứu là Lê Đàm Hồng Lộc, SV K2017 chương trình Liên kết Quốc tế ngành Công nghệ Thông tin.

Mind Your Neck là ứng dụng giúp ngăn ngừa các bệnh về cổ và cột sống. “Chủ xị” nghiên cứu là Lê Đàm Hồng Lộc, SV K2017 chương trình Liên kết Quốc tế ngành Công nghệ Thông tin.

Trong vòng hai tháng, nhóm bạn trẻ dưới sự “chỉ huy” của Lê Đàm Hồng Lộc (hình phải) đã sáng tạo ứng dụng Mind Your Neck, giúp người sử dụng điều chỉnh tư thế, “tập thể dục” nhằm giảm các tác hại bệnh lý ở đốt sống cổ.

Lê Đàm Hồng Lộc hiện là sinh viên năm thứ Hai ngành Công nghệ Thông tin – chương trình Liên kết Quốc tế (Trường ĐH Bách Khoa). Lộc từng có tám năm phụ giúp mẹ làm việc tại phòng khám vật ký trị liệu của gia đình.

“Mình đã nhìn thấy rất nhiều người bệnh đến phòng khám chữa đau cổ, đau lưng mỗi ngày, mà nguyên nhân căn bản là do họ ngồi làm việc sai tư thế. Đau lưng, đau cổ ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cuộc sống của mỗi người. Nhận thấy mình có thể sáng tạo ứng dụng, cảnh báo, hỗ trợ mọi người ngồi cho đúng, thế là mình lên kế hoạch, rồi kêu gọi mọi người tham gia thiết kế”, Lộc nói.

Nhóm gồm 10 thành viên: người phụ trách thiết kế, người viết chương trình, người phụ làm blog… Cuối cùng sản phẩm Mind Your Neck được đăng trên hệ điều hành iOS của Apple.

10 thành viên của nhóm đến từ nhiều trường ĐH, THT khác nhau: Lê Đàm Hồng Lộc, Trần Gia Bảo, Lê Nhật Minh, Đặng Thị Quỳnh Như, Nguyễn Thiên An, Trần Thụy Như Quỳnh, Lâm Vĩnh Thịnh, Phan Thị Nguyên Phương, Phạm Thị Ngọc Hòa, Văn Khánh Huyền.

Không chỉ là người viết chương trình, vạch kế hoạch, Lê Đàm Hồng Lộc còn được mẹ (ThS. bác sĩ Đàm Đinh Hồng Hoa, trưởng Khoa Phục hồi Chức năng – Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Yên) làm chuyên gia cố vấn các vấn đề bệnh lý ở cổ cho mình.

Bác sĩ Hoa chia sẻ: “Mỗi ngày có khoảng 100 người đến phòng khám của gia đình tôi điều trị về triệu chứng đau nhức xương khớp. 70% những người thoái hóa đốt sống cổ là nhân viên văn phòng. Bình thường, khi làm việc mọi người ngồi thẳng lưng vuông góc với mặt bàn, thì cổ nghiêng một góc 45 độ là phù hợp. Nếu người ngồi làm việc, nhìn máy tính, điện thoại nghiêng sâu, cúi gập người, lâu dài thì dễ sinh bệnh từ cấp độ 1 đến 5, cao nhất là thoái hóa đốt sống cổ, lưng. Thông thường sau khoảng hai tuần điều trị, tập vật lý trị liệu, điều chỉnh tư thế ngồi làm việc là người bệnh có thể đi lại bình thường, các triệu chứng đau nhức giảm hẳn. Nhưng nếu ngồi làm việc trở lại theo thói quen thì nguy cơ tái phát rất cao”.

Ứng dụng Mind Your Neck sử dụng khá đơn giản: tải về điện thoại, sau khi cài đặt, mỗi lần chủ nhân sử dụng điện thoại, cúi đầu nghiêng góc hơn 45 độ, điện thoại sẽ tự động báo cho người sử dụng biết mình ngồi sai tư thế. Ứng dụng sẽ tự tính được bạn ngồi đúng tư thế bao nhiêu phút đồng thời có thêm các bài tập thể dục cho cổ với biểu tượng chú hươu cao cổ thu hút người dùng.

Sau khi đăng trên Apple Store, sắp tới Lộc và các bạn trong nhóm sẽ cải tiến ứng dụng phù hợp với các thiết bị dùng hệ điều hành Android. Lộc chia sẻ thêm: “Ngoài tập luyện cho cổ, kế hoạch tương lai của mình là hướng đến công nghệ vật lý trị liệu, giảm thiểu các bệnh về mắt, cổ, lưng… bằng app trên di động. Ngừa bệnh bao giờ cũng là phương pháp dễ dàng và ít tốn kém hơn là dùng các biện pháp can thiệp y khoa”.

“Phòng ngừa tốt thì nguy cơ mắc bệnh sẽ ít hơn. Với ứng dụng này, em hy vọng góp chút sức cho cộng đồng, mọi người ai cũng được khỏe mạnh.”

Trần Thụy Như Quỳnh – thành viên nhỏ tuổi nhất trong nhóm

Lộc (đeo mắt kiếng) cùng thành viên trong đội chỉnh sửa code cho ứng dụng.

“Lần đầu tiên được tham gia quá trình làm một ứng dụng di động em cảm thấy rất háo hức. Đọc các tài liệu về bệnh lý, em thấy dù chưa nằm trong nhóm có nguy cơ cao nhưng ngay từ bây giờ phải ý thức ngồi học, làm việc cho đúng tư thế. Phòng ngừa tốt thì nguy cơ mắc bệnh sẽ ít hơn. Với ứng dụng này, em hy vọng góp chút sức cho cộng đồng, mọi người ai cũng được khỏe mạnh”, Trần Thụy Như Quỳnh, thành viên nhỏ tuổi nhất trong nhóm, nói.

Theo một nghiên cứu của Trường Y Harvard (Boston, Mỹ) và Trường ĐH Utah (Mỹ) xuất bản giữa tháng 4/2018 trên Global Spine Journal (Tạp chí nghiên cứu xương khớp toàn cầu), hiện nay mỗi năm có khoảng 266 triệu người bị bệnh về đốt sống cổ và cột sống, chiếm 3,63% dân số thế giới. Nếu lấy con số này so với số người sử dụng smartphone trong độ tuổi từ 18-44 có thể bị bệnh là 2 tỉ người thì số người có thể bị bệnh thoái hóa đốt sống cổ, thoái hóa đốt sống lưng do ngồi sai tư thế khoảng 72,6 triệu người. Thoái hóa cột sống đang là bệnh đứng đầu trong nhóm khiến bệnh nhân mất khả năng vận động.
 

NGUYÊN TRANG (Thanh Niên Online)

Nữ nhi dầu khí đoạt Giải I Hội nghị Nghiên cứu khoa học SV BK-OISP 2018

Nữ nhi dầu khí đoạt Giải I Hội nghị Nghiên cứu khoa học SV BK-OISP 2018

Đó là Bùi Nguyễn Bảo Trâm, SV K2014 ngành Kỹ thuật Dầu khí, chương trình chính quy Chất lượng cao (Trường ĐH Bách Khoa), với đề tài “Khảo sát cơ chế và dự báo sa lắng muối trong giếng khai thác P-1, mỏ X”.

Đó là Bùi Nguyễn Bảo Trâm, SV K2014 ngành Kỹ thuật Dầu khí, chương trình chính quy Chất lượng cao (Trường ĐH Bách Khoa), với đề tài “Khảo sát cơ chế và dự báo sa lắng muối trong giếng khai thác P-1, mỏ X”.

OISP Research Symposium 2018 23

Bùi Nguyễn Bảo Trâm (giữa), SV K2014 ngành Kỹ thuật Dầu khí, chương trình chính quy Chất lượng cao, đạt giải Nhất (Phân ban 2) Hội nghị Nghiên cứu khoa học SV BK-OISP với đề tài “Khảo sát cơ chế và dự báo sa lắng muối trong giếng khai thác P-1, mỏ X”.

Đề tài của Trâm đã đạt Giải Nhất/ Phân ban 2; đồng thời được chọn trình bày tại Hội nghị SEATUC (Hiệp hội các Trường đại học Kỹ thuật Đông Nam Á) 2018 và xuất bản trên ấn phẩm khoa học của hội nghị.

Cô bạn “con nhà người ta” này từng được “lên ti dzi” BK-OISP vì thành tích nghiên cứu khoa học đáng nể và hành trình lựa chọn Bách Khoa đầy éo le (đậu Y Khoa mà bỏ, đi học Bách Khoa).

OISP Research Symposium 2018 01

Từng “chinh chiến ở nhiều hội thảo khoa học quốc tế nên Bảo Trâm rất tự tin khi trình bày đề tài nghiên cứu bằng tiếng Anh. 

► Bùi Nguyễn Bảo Trâm: đậu Y, học Bách, thích thử thách tới cùng

► Nghiên cứu khoa học – không bao giờ là trễ

Hội nghị Nghiên cứu khoa học SV BK-OISP vừa diễn ra hôm 9/6/2018 vừa qua tại Trường ĐH Bách Khoa (ĐHQG-HCM). Đây là sân chơi học thuật thường niên dành cho SV các chương trình đào tạo chính quy học bằng tiếng Anh (Chất lượng cao, Tiên tiến, Liên kết Quốc tế) và chính quy Tăng cường Tiếng Nhật của Bách Khoa. Toàn bộ nội dung nghiên cứu đều được báo cáo và trình bày bằng tiếng Anh.

Năm 2018 có 22 đề tài tham gia tranh tài, trải rộng ở các ngành học như Điện – Điện tử, Địa chất Dầu khí, Xây dựng, Khoa học & Kỹ thuật Máy tính, Quản trị Kinh doanh, Kỹ thuật Hóa học, Môi trường & Tài nguyên, Cơ khí, Kỹ thuật Giao thông…

Nhóm đề tài “Thiết kế hệ thống điều khiển các thiết bị thông minh qua mạng MESH WLAN” của hai SV chương trình Tiên tiến – Kỹ thuật Điện – Điện tử, Nguyễn Thọ Anh Khoa, Tăng Thành Đạt.

Đây là thành quả của một năm (từ tháng 6/2017 – 6//2018) nghiên cứu, tìm tòi, thử nghiệm của các bạn SV. Sản phẩm đầu ra của đề tài phải là một bài báo cáo khoa học để “trình làng” tại Hội nghị Nghiên cứu khoa học SV BK-OISP 2018, cùng với đó là các phẩm công nghệ cụ thể hoặc mô hình mô phỏng thực tế.

Cũng năm 2018, không chỉ số lượng đề tài dự thi tăng (từ 18 lên 22), mà tổng kinh phí cấp cho SV tham gia nghiên cứu khoa học cũng tăng (từ 200 lên 300 triệu đồng). Có những SV đã tham gia hội nghị 2017, năm nay vẫn tiếp tục tham gia với đề tài mới. Điều này cho thấy, ngày càng nhiều SV quan tâm sâu và bắt đầu hành trình nghiên cứu khoa học một cách nghiêm túc.

Mô hình sản phẩm của đề tài “Remotely operated underwater vehicle”.

PGS.TS. Lê Thị Kim Phụng (giữa), Phó Trưởng Khoa Kỹ thuật Hóa học, top 100 nhà khoa học hàng đầu châu Á 2017, thành viên Hội đồng Khoa học.

Các đội thi SV chụp hình lưu niệm cùng Hội đồng Khoa học và Ban Tổ chức.

Gian trưng bày các bảng tóm lược đề tài nghiên cứu của SV.

CÁC ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ĐẠT GIẢI 2018

Phân ban 2

  • Giải Nhì: “Khả năng hấp thụ cadmium, chì và crôm của vi tảo có nguồn gốc Việt Nam”, chủ nhiệm đề tài – Võ Minh Tân (SV K2014 Quản lý Tài nguyên & Môi trường, chương trình Chất lượng cao); đề tài được đăng trên Tạp chí Môi trường Việt Nam, số tháng 6/2018
  • Giải Ba: “Khảo sát ảnh hưởng nhiệt đối với hiện quả xứ lý nước nhiễm mặn sử dụng công nghệ chưng cất màng”, chủ nhiệm đề tài – Phan Ngọc Quỳnh Hương (SV K2016 Kỹ thuật Môi trường, chương trình Chất lượng cao); đề tài được đăng trên Tạp chí Khoa học màng tế bào ứng dụng (Trường ĐH Kỹ thuật Malaysia), số tháng 6/2018
  • Giải Ba: “Trích ly hoạt chất azadirachtin từ cây neem bằng phương pháp chiết Soxhlet và thử nghiệm khả năng kháng khuẩn Vibrio Spp. gây bệnh hoại tử gan trên tôm”, chủ nhiệm đề tài – Nguyễn Trịnh Phương Mai (SV K2016 Kỹ thuật Hóa học, chương trình Liên kết Quốc tế)

Phân ban 1

 

► Xem thêm hình ảnh của các nhóm đề tài tại hội thảo

Tin: THI CA; Ảnh: ĐỨC HÙNG

Máy bay bón phân, phun thuốc trừ sâu của ĐH Bách Khoa

Máy bay bón phân, phun thuốc trừ sâu của ĐH Bách Khoa

Chiếc máy bay không người lái này có khả năng phun thuốc trừ sâu, gieo hạt trồng rừng, bón phân dạng lỏng hoặc rắn.

Chiếc máy bay không người lái này có khả năng phun thuốc trừ sâu, gieo hạt trồng rừng, bón phân dạng lỏng hoặc rắn.

Drone bon phan Bach Khoa

Nhóm nghiên cứu làm việc tại bộ môn hàng không, ĐH Bách khoa TP.HCM – Ảnh: TƯỜNG HÂN

Xuất phát từ thực trạng hiện nay nông dân vẫn phải thường xuyên tiếp xúc với hóa chất độc hại, TS. Vũ Ngọc Ánh – giảng viên Khoa Kỹ thuật Giao thông, Trường Đại học Bách Khoa, cùng nhóm nghiên cứu Bộ môn Hàng không, đã phát triển dòng máy bay không người lái (drone) dùng trong nông nghiệp.

“Nhiệm vụ chính của thiết bị này là phun thuốc trừ sâu, ngoài ra nó có thể điều chỉnh để thực hiện việc gieo hạt trồng rừng, bón phân dạng lỏng hoặc rắn. Máy bay có thể chở tối đa 15 kg thuốc, tốc độ phun khoảng 0,5-1 ha trong 10 phút. Thử nghiệm tại sân Trường Đại học Bách Khoa, drone tải được 10 kg trên không trong gần 14 phút.” – TS. Ánh cho biết.

Bằng đầu phun nhỏ, thuốc trừ sâu được tán ra thành những hạt nhỏ. Nhóm nghiên cứu ước tính 10 kg dung dịch thuốc đặc có thể phun cho 1 ha với hiệu suất thời gian gấp 50 lần bằng tay, và từ 2-5 lần sử dụng máy kéo.

Độ cao phun so với cây trồng được lập trình hoặc điều khiển. Máy bay có khả năng phun thuốc ở vùng cao tới 1.000 mét so với mực nước biển.

Với tầm giá 150-300 triệu đồng/máy bay, sản phẩm phù hợp với quy mô nông trại lớn hoặc dịch vụ cung ứng cho mỗi vùng nông nghiệp.

TS. Ánh bày tỏ nguyện vọng: “Nghiên cứu này cần được hỗ trợ từ doanh nghiệp, thuế, chính sách ưu đãi cho khoa học, công nghệ và giấy phép thử nghiệm bay thực tế ngoài đồng ruộng.”

TƯỜNG HÂN (Tuổi Trẻ)