Select Page
SV Bách khoa làm trạm quan trắc thông minh đo ô nhiễm nước

SV Bách khoa làm trạm quan trắc thông minh đo ô nhiễm nước

Sản phẩm đạt giải Nhì cuộc thi AIoT & Smart Cities 2019 do Vườn ươm Doanh nghiệp phần mềm Quang Trung (QTSC Incubator) tổ chức.

Sản phẩm đạt giải Nhì cuộc thi AIoT & Smart Cities 2019 do Vườn ươm Doanh nghiệp phần mềm Quang Trung (QTSC Incubator) tổ chức.

Từ chiếc phao nổi thông thường, nhóm sinh viên ngành Kỹ thuật Máy tính – Trường ĐH Bách khoa (ĐHQG-HCM) đã thiết kế thành một trạm quan trắc thông minh với nhiều loại cảm biến để đo môi trường nước ở các đầm nuôi tôm.

Tram quan trac phao tu dong Pham Le Song Ngan 01

Tram quan trac phao tu dong Pham Le Song Ngan 03

Mô hình trạm quan trắc của nhóm sinh viên Trường ĐH Bách khoa được trưng bày tại Tuần lễ đổi mới sáng tạo & khởi nghiệp TP.HCM 2019 do Sở Khoa học & Công nghệ TP.HCM tổ chức. – Hình: SONG NGÂN

TỪ ĐẦM TÔM…

Phạm Lê Song Ngân – SV K2016 ngành Kỹ thuật Máy tính, chương trình Chất lượng cao, thành viên dự án – mô tả trạm quan trắc được tích hợp nhiều cảm biến ghi nhận các thông số khác nhau, kèm theo các mạch giúp đọc giá trị từ cảm biến. Dữ liệu quan trắc thực tế sẽ được chuyển về một trạm thông tin trên internet trong từng khoảng thời gian, từ đó phân tích và đề xuất các giải pháp.

Để bảo vệ bộ cảm biến và mạch, nhóm sáng tạo một chiếc phao nổi, trong đó chứa tất cả những thiết bị cần thiết. Trạm-quan-trắc-phao này còn tích hợp nguồn điện tự hoạt động từ pin năng lượng mặt trời, thiết bị truyền thông tin với thời gian thực, các thiết bị hàng hải, thông báo tình trạng và vị trí phao qua đường truyền GSM hay GPS.

Điểm mạnh của hệ thống nằm ở chỗ các trạm chỉ đọc số liệu của từng loại cảm biến nhất định, sau đó liên kết với nhau trong môi trường mạng. Trước đây, các trạm phải đảm nhiệm nhiều chức năng cùng lúc như đọc tất cả cảm biến kết nối, truyền tất cả dữ liệu trên rồi gửi về trạm chính, dẫn đến tình trạng nếu một mạch cảm biến bị hư, kỹ thuật viên rất khó để xác định được lỗi và khắc phục.

Khi sử dụng, hệ thống sẽ được lắp đặt bằng cách neo giằng phao trên môi trường nước, tùy vào độ sâu, đặc điểm của địa điểm cần quan trắc. Hiện tại, hệ thống đang được ứng dụng trong các đầm nuôi tôm, ghi nhận các số liệu như độ pH, nồng độ oxy, qua đó có thể đưa ra những cảnh báo kịp thời cho người nuôi trồng thông qua điện thoại thông minh.

Tram quan trac phao tu dong Pham Le Song Ngan 05

Cận cảnh thiết bị của trạm quan trắc thông minh. – Hình: SONG NGÂN

Hệ thống cũng có khả năng kết nối với các thiết bị khác trong đầm tôm để tạo thành hệ sinh thái nông nghiệp thông minh, chẳng hạn có thể tự kích hoạt bộ phận bơm oxy khi quan trắc phát hiện và phân tích được nồng độ oxy trong đầm đang ở mức thấp hơn ngưỡng trung bình.

“Công nghệ này hứa hẹn sẽ tạo nên hệ thống quản lý nông nghiệp thông minh trong tương lai,” – Song Ngân nói.

Cộng sự của Ngân trong dự án, Bùi Quang Tiến – cựu SV K2010 ngành Kỹ thuật Máy tính, cho biết thêm, sản phẩm là một hệ thống mở bởi không chỉ giới hạn trong khu vực đầm tôm hay môi trường nước, nếu người dùng cần các thông số cho từng lĩnh vực cụ thể khác, chỉ cần thay đổi các cảm biến cũng như thiết kế cơ khí bên ngoài thích hợp.

Chẳng hạn, hệ thống có thể áp dụng cho các trang trại chăn nuôi như gà công nghiệp, qua đó quan trắc nhiệt độ hoặc hàm lượng bụi trong chuồng. Nếu quá lạnh, hệ thống sẽ cảnh báo hoặc phát tín hiệu giúp điều chỉnh bộ điều hòa, hoặc nếu hàm lượng bụi cao có thể thông báo bật bộ phận máy lọc khí.

… TỚI BIỂN LỚN

Là người thiết kế chính sản phẩm, Quang Tiến chia sẻ để có một hệ thống phải trải qua ba giai đoạn bao gồm thiết kế cơ khí, thiết kế mạch điện và thiết kế ứng dụng trên điện thoại thông minh. Với Tiến, phần mạch điện là khó khăn và tốn thời gian nhất do phải kiểm tra nhiều lần nhằm đảm bảo độ chính xác cao nhất.

Theo TS. Lê Trọng Nhân – giảng viên Bộ môn Kỹ thuật Máy tính, Trường ĐH Bách khoa, hệ thống của nhóm sinh viên Ngân và Tiến dựa trên những công nghệ mới nhất về AIoT (Artificial Intelligence of Things) của Microsoft, bên cạnh mạch thu dữ liệu sử dụng hệ điều hành Android Things của Google.

“Trạm quan trắc trên có thể xem là hệ thống tổng quát, tùy theo ứng dụng thực tế sẽ được điều chỉnh cho phù hợp,” – ông Nhân nói.

TS. Nhân cho biết thêm hiện ông và nhóm nghiên cứu của riêng mình đã bắt tay vào một dự án hợp tác với University of Technology Sydney (Úc), xây dựng một trạm quan trắc phao với đường kính đến 3 m, ghi nhận số liệu ở Vịnh Xuân Đài (Phú Yên) – một trong những nơi nuôi tôm hùm lớn nhất Việt Nam.

Hệ thống trạm quan trắc lấy ý tưởng tương tự như của nhóm Ngân và Tiến, nhưng phức tạp hơn nhiều, đòi hỏi những tính toán kỹ lưỡng về nhiều yếu tố, đặc biệt là thời tiết và khả năng truyền dẫn thông tin giữa biển khơi.

“Nhóm của chúng tôi và các em, cùng đối tác bên Úc đã tiến hành những bước nghiên cứu đầu tiên. Đây là một bài toán khó nhưng nếu thành công thì rõ ràng đòn bẩy rất lớn cho một sản phẩm của sinh viên.” – ông Nhân nói.

XU HƯỚNG AIoT

TS. Lê Trọng Nhân cho biết công nghệ AIoT đang thúc đẩy sự phát triển sáng tạo của nhiều lĩnh vực thông minh như giao thông thông minh, chăm sóc sức khỏe thông minh, nhà ở thông minh hay thành phố thông minh.

Cộng đồng công nghệ thông tin Việt Nam cũng cập nhật khá nhanh những phát triển mới AIoT trên thế giới. Tuy nhiên, cái hay của AIoT nằm ở chỗ ngay từ các học sinh cấp II đã có thể sáng tạo các sản phẩm tương tự, dù không chỉn chu như các anh chị lớn nhưng cũng cho ra các thiết bị sáng tạo dùng được.

Theo ông Nhân, để AIoT phát huy được hiệu quả cần có sự hỗ trợ của các chuyên gia trong từng lĩnh vực cụ thể. Chẳng hạn, người chuyên công nghệ thông tin nếu không được hỗ trợ sẽ không thu được những dữ liệu có ý nghĩa, hoặc nếu thu thông tin nhưng không biết xử lý như thế nào để đem lại giá trị cho hoạt động sản xuất.

 

Cuộc thi AIoT & Smart Cities 2019 do QTSC Incubator phối hợp tổ chức cùng Sở Khoa học & Công nghệ TP.HCM, Hội Tin học TP.HCM, Tập đoàn Công nghệ Bosch, Hội Tin học Việt Nam và Công viên Phần mềm Quang Trung. Năm đầu tiên tố chức, cuộc thi đã thu hút 84 đội thi, từ đó chọn ra chín dự án xuất sắc nhất.
 

THI CA tổng hợp từ Tuổi Trẻ

SV Bách khoa dùng oxide graphene biến chất thải dệt nhuộm thành khí và nước

SV Bách khoa dùng oxide graphene biến chất thải dệt nhuộm thành khí và nước

Theo đó, oxide graphene được dùng để thay thế quy trình “keo tụ tạo bông” vốn sử dụng hóa chất và tạo ra chất thải rắn tại các cơ sở dệt nhuộm tại TP.HCM.

Theo đó, oxide graphene được dùng để thay thế quy trình “keo tụ tạo bông” vốn sử dụng hóa chất và tạo ra chất thải rắn tại các cơ sở dệt nhuộm tại TP.HCM.

Oxide graphene có khả năng tự hấp thụ các chất màu trên bề mặt vật liệu và chỉ thải ra khí carbonic (CO2) và nước (H2O) nên rất thân thiện với môi trường.

BA CON HẺM GẦN NHAU CHỨA TỚI 30 CƠ SỞ DỆT NHUỘM

Đại diện nhóm nghiên cứu, Phùng Ngọc Bảo Long, SV K2018 chương trình Chất lượng cao, ngành Kỹ thuật Hóa học (Trường ĐH Bách khoa), cho biết dệt nhuộm là ngành công nghiệp gây nhiều ô nhiễm nhất cho môi trường – chỉ đứng sau ngành nông nghiệp. Nước thải từ hoạt động dệt nhuộm có chứa nhiều chất hữu cơ độc hại, có thể gây bệnh ung thư, các bệnh lý về nội tạng, thậm chí là cách bệnh về não bộ của con người.

SVBK lam graphene xu ly chat thai det nhuom

Phùng Ngọc Bảo Long và hộp đựng mẫu oxide graphene dạng bột do nhóm nghiên cứu tổng hợp thành. – Hình: HÀ THẾ AN

Long chia sẻ, khảo sát gần đây của một tờ báo nước ngoài cho thấy có tới 80% các cơ sở dệt nhuộm tại Việt Nam vi phạm một hoặc nhiều các quy định về môi trường. Nhiều cơ sở dệt nhuộm thậm chí còn không có hệ thống xử lý chất thải. Cơ sở có hệ thống xử lý chất thải lại sử dụng quy trình “keo tụ tạo bông” tạo ra các loại bùn thải, khi đưa ra môi trường thì vẫn không đảm bảo an toàn.

Không dừng lại ở lý thuyết suông, nhóm đã tiến hành trực tiếp khảo sát tại các điểm đen môi trường tại TP.HCM, nơi có sự hiện diện hàng chục cơ sở dệt nhuộm. Nhóm đã đến khu vực Kênh Tham Lương (Q.12, TP.HCM) và ghi nhận được chỉ trong ba con hẻm (mỗi hẻm cách nhau 50 mét) có tới gần 30 cơ sở dệt nhuộm.

“Nước thải dệt nhuộm đổ xuống kênh làm dòng nước đen ngòm. Nhóm đã phỏng vấn nhiều người dân và họ tỏ ra rất bức xúc vì nhiều năm phải chịu mùi hôi, ảnh hưởng đến cuộc sống và sinh hoạt.” – Long kể lại.

Nhóm cho rằng, hiện nay đa số các cơ sở dệt nhuộm tại TP.HCM ở quy mô vừa và nhỏ, nên các chủ cơ sở không có điều kiện để đầu tư công nghệ trong việc xử lý chất thải. Cơ sở có xử lý chất thải lại sử dụng công nghệ “keo tụ tạo bông” tạo ra bùn thải. Vì thế, nhóm đã đưa ra ý tưởng xây dựng quy trình công nghệ với giá thành rẻ và thân thiện với môi trường.

BIẾN CHẤT THẢI THÀNH KHÍ CARBONIC VÀ NƯỚC

Sau nhiều tháng làm việc tại Phòng Thí nghiệm trọng điểm ĐHQG Công nghệ hóa học & Dầu khí (CEPP), Long và các thành viên nhóm nghiên cứu đã đề xuất sử dụng một dạng oxide graphene (tổng hợp tử graphene) kết hợp với một số vật liệu vô cơ nhằm thay thế quy trình “keo tụ tạo bông” tại các cơ sở dệt nhuộm.

Oxide graphene khi được sử dụng có thể hấp thụ các chất màu trên bề mặt vật liệu và chỉ thải ra khí carbonic (CO2) và nước (H2O) .

Dự án này đã xuất sắc đoạt giải Nhất cuộc thi Bách Khoa Innovation 2019. Hình: OISP

Lê Minh Duy, thành viên nhóm, cho biết nhóm đã thực nghiệm tính hiệu quả của oxide graphene bằng việc thí nghiệm sử dụng một ống cao có chứa nước thải chất màu dệt nhuộm. Sau đó nhóm đưa oxide graphene (dạng bột) vào nước thải để xảy ra phản ứng hóa học, đồng thời chiếu tia UV nhằm tối ưu hóa quá trình này. Kết quả nhóm thu được lượng khí CO2 và nước cùng một số ít chất khác. Lượng khí CO2 này sẽ được thu lại để tái sử dụng làm nguyên liệu sản xuất trong một số ngành công nghiệp.

Từ đó, nhóm đưa ra kết luận, việc sử dụng oxide graphene trong xử lý chất thải tại các cơ sở dệt nhuộm có hiệu suất 96% so với 86% của quá trình keo tụ tạo bông. Ngoài ra, công nghệ mới không tốn diện tích đất (làm bể), cắt giảm nhiều công đoạn xử lý nước thải…

“Mặc dù chi phí cho công nghệ xử dụng oxide graphene cao hơn nhưng vì hiệu suất tối ưu hơn, ít tốn diện tích, thân thiện với môi trường hơn, cắt giảm nhiều công đoạn nên có thể nói công nghệ của nhóm nghiên cứu có thể giảm 50% chi phí so với phương pháp cũ.” – Duy chia sẻ.

Hiện tại, nhóm đang tiếp tục hoàn thiện công nghệ này và sẽ đăng ký bằng độc quyền sáng chế. Theo nhóm, trong tương lai sẽ tiến hành thực nghiệm trực tiếp tại các cơ sở dệt nhuộm để đánh giá chính xác nhất tính hiệu quả, bền vững của dự án.

Sản phẩm oxide graphene của nhóm đã xuất sắc giành giải Nhất cuộc thi Bách Khoa Innovation 2019 do Trường ĐH Bách khoa (ĐHQG-HCM) tổ chức vào tháng Sáu vừa qua. Bốn sinh viên thực hiện đề tài là: Phùng Ngọc Bảo Long, Lê Minh Duy, Nguyễn Nhật Minh, Đường Châu Uyên Nhi – đều là SV chương trình Chất lượng cao, ngành Kỹ thuật Hóa học và Công nghệ Thực phẩm của trường.

Video clip ghi lại quá trình nghiên cứu sản phẩm của nhóm. – Clip: nanoC.A.T

HÀ THẾ AN (Khám phá)

Vật liệu nano xử lý nước thải dệt nhuộm lên ngôi Bách Khoa Innovation 2019

Vật liệu nano xử lý nước thải dệt nhuộm lên ngôi Bách Khoa Innovation 2019

Vòng Chung kết cuộc thi Bách Khoa Innovation 2019 vừa diễn ra vào Chủ Nhật 30/6 tại Trường ĐH Bách Khoa (ĐHQG-HCM).

Vòng Chung kết cuộc thi Bách Khoa Innovation 2019 vừa diễn ra vào Chủ Nhật 30/6 tại Trường ĐH Bách Khoa (ĐHQG-HCM).

Đây là thành quả nghiên cứu khoa học của nhóm KingBlue gồm bốn bạn Phùng Ngọc Bảo Long, Lê Minh Duy, Nguyễn Nhật Minh, Dương Châu Uyên Nhi – SV K2018 Chương trình Chất lượng cao, ngành Kỹ thuật Hóa họcCông nghệ Thực phẩm, Trường ĐH Bách Khoa.

Trước thực trạng ngành dệt nhuộm và nước thải của nó gây ô nhiễm đáng kể cho môi trường (hàm lượng chất hữu cơ cao, khó phân hủy, pH 9-12 do chưa các chất tẩy…), nhóm KingBlue đã nghiên cứu, tìm tòi ra giải pháp sáng tạo mới mang tên NanoC.A.T. Đây là vật liệu nano xử lý nước thải dệt nhuộm, vừa kinh tế, vừa thân thiện với môi trường.

Nhóm KingBlue nói về ý tưởng và quá trình nghiên cứu NanoC.A.T.

Sản phẩm này đã giúp nhóm KingBlue đoạt Giải Nhất cuộc thi Bách Khoa Innovation 2019. Năm thứ hai tổ chức, cuộc thi đã thu hút 261 sinh viên tham gia tranh tài qua 68 dự án, 5 doanh nghiệp tài trợ (TMA Solutions, CBS Vietnam, Mai Trần ITC, FPT Software HCM, Robert Bosch Engineering & Business Solutions Vietnam)

Bach Khoa Innovation 2019 CK 02

Nhóm KingBlue đăng quang Giải Nhất cuộc thi Bách Khoa Innovation 2019.

Kết quả chung cuộc:

Nhóm Trưởng nhóm Đề tài Giải
KingBlue Phùng Ngọc Bảo Long NanoC.A.T. I
HAPPY HOUSE Đỗ Đức Nam Smart Barrier II
UVI Nguyễn Đức Huy Hưng Germicidal Wavelengths (GW) II
BLUEWAVE Lê Văn Hoàng Phương Indoor Positioning System for Hospitals III
Barley Võ Ngọc Khánh Linh Barley III
 

Bách Khoa Innovation là cuộc thi đổi mới – sáng tạo dành cho sinh viên Bách Khoa các chương trình đào tạo quốc tế nói riêng cũng như toàn trường nói chung, được tổ chức lần đầu tiên vào 2018. Đặc biệt, ngôn ngữ trình bày và phản biện hoàn toàn bằng tiếng Anh. Đây là sân chơi để sinh viên Bách Khoa Quốc tế cọ xát và hiện thực hóa các ý tưởng, mô hình sáng tạo khởi nghiệp, các nghiên cứu khoa học. Qua đó, giải quyết các nhu cầu thực tế của xã hội bằng các giải pháp kỹ thuật, công nghệ và quản trị; đồng thời kết nối sinh viên Bách Khoa với nhau và với các doanh nghiệp, nhà đầu tư.

Bach Khoa Innovation 2019 CK 01

Các đội vào top 20 tại Vòng Chung kết Bách Khoa Innovation 2019.

 

Tin, ảnh: NGHĨA NGUYỄN

Thuyền không người lái của SV Bách khoa

Thuyền không người lái của SV Bách khoa

Sản phẩm nghiên cứu khoa học của nhóm SV Điện – Điện tử, nhằm giúp quan trắc môi trường nước tự động.

Sản phẩm nghiên cứu khoa học của nhóm SV Điện – Điện tử, nhằm giúp quan trắc môi trường nước tự động.

Thuyen khong nguoi lai 01

Sản phẩm thuyền không người lái dùng trong quan trắc môi trường nước. – Ảnh: HOA NỮ

Nhóm sinh viên sáng chế ra thuyền không người lái gồm: Nguyễn Đăng Khoa, Bùi Quốc ChiếnĐặng Cao Cường, đang theo học chuyên ngành Tự động hóa, Khoa Điện – Điện tử, Trường ĐH Bách khoa (ĐHQG-HCM). Cả ba đang nghiên cứu tại VIAM Lab – Phòng thí nghiệm Điều khiển tự động & Cơ Điện tử (thuộc Trường ĐH Bách khoa).

ĐO NHANH, LIÊN TỤC, CHÍNH XÁC, ÍT TỐN KÉM NHÂN LỰC

Hiện nay, việc quan trắc, khảo sát tình trạng ô nhiễm nguồn nước sông hồ, kênh rạch hầu hết được thực hiện thủ công nên tính cơ động và liên tục không cao. Trước thực trạng đó, nhóm sinh viên Khoa – Chiến – Cường đã tìm tòi, nghiên cứu thực hiện sản phẩm thuyền không người lái (USV – Unmanned Space Vehicle) để hỗ trợ quá trình này.

“Đo nhanh, trực tiếp và liên tục trên diện rộng; mức độ tự động hóa cao, tiết kiệm chi phí đầu tư và vận hành để quan trắc, sử dụng ít nhân lực; tất cả các dữ liệu quan trắc được thu thập trên diện rộng theo quỹ đạo định trước, đồng bộ với lịch trình lấy mẫu chung đã đề ra trước đó, giúp việc quan trắc đạt độ chính xác cao và liên tục trong thời gian khảo sát.” – Khoa tự hào khi nhắc về những ưu điểm mà sản phẩm của nhóm làm được.

BỀN BỈ, THÍCH NGHI NHIỀU ĐIỀU KIỆN MÔI TRƯỜNG VÀ KHÍ HẬU

Chiếc thuyền của nhóm hai thân, giúp hạn chế không bị lật úp, bảo vệ các thiết bị trên thuyền. Không những thế, độ rung lắc thấp cũng là một yếu tố cơ bản giúp đảm bảo các thiết bị cảm biến trên tàu hoạt động chính xác và lâu dài. Không gian trên chiếc “USV hai thân” này cũng rộng hơn, cho phép bố trí nhiều thiết bị hơn, phù hợp với nhiều nhiệm vụ khác nhau.

“Thân tàu được làm bằng vật liệu composite với các ưu điểm: nhẹ hơn khoảng 50% trọng lượng tàu gỗ hoặc thép cùng cỡ; độ bền cao, dẻo dai, có khả năng chịu va đập cao nhờ module đàn hồi thấp; không bị rỉ sét, không bị tác động bởi muối hoặc hóa chất, thích hợp hoạt động trong nhiều môi trường nước khác nhau (kể cả biển); chi phí bảo trì thấp.” – Khoa giải thích cặn kẽ về vật liệu được nhóm sử dụng làm thuyền. 

Thuyen khong nguoi lai 02

Nhóm tác giả và chiếc thuyền không người lái tại cuộc thi Eureka 2018. – Ảnh: HOA NỮ

Về phần mềm, nhóm xây dựng được giải thuật điều khiển và dẫn đường với sai số thấp, độ chính xác cao. Hiện tại, thuyền có hai chế độ điều khiển là bằng tay hoặc tự động di chuyển theo lộ trình được xác định trên Google Map. Nhóm sử dụng:

  • Module GPS RTK nên có thể nhận được vị trí của thuyền với độ chính xác cao hơn so với GPS thông thường

  • Cảm biến gia tốc góc IMU để điều khiển góc xoay của tàu

  • Module thu phát RF để truyền nhận dữ liệu từ xa (tốc độ tối đa 250 kbps, đường kính ngoài trời 1,6 km)

ỨNG DỤNG TUẦN TRA, TÌM KIẾM, CỨU NẠN TRÊN BIỂN

Nhóm mong muốn, trong tương lai, với việc trang bị các cảm biến và nhiều thiết bị chuyên dụng khác, “USV hai thân” có thể mở rộng phạm vi ứng dụng sang các lĩnh vực: đo độ mặn nước, nhiệt độ nước; hàm lượng CO2 trong không khí và biển; áp suất khí quyển, chiều cao sóng, tốc độ gió; theo dõi cá, quan sát bằng hình ảnh, âm thanh dưới nước; đo tràn dầu, ô nhiễm; khảo sát, theo dõi, lập bản đồ đường biển; tuần tra, cứu hộ và phòng vệ trên biển.

THI CA tổng hợp từ Thanh Niên

Áo chống nắng bằng xơ tre của SV Bách khoa

Áo chống nắng bằng xơ tre của SV Bách khoa

Ngoài chống tia cực tím, áo còn có thể dùng làm trang phục thời trang/ thể thao, túi xách.

Ngoài chống tia cực tím, áo còn có thể dùng làm trang phục thời trang/ thể thao, túi xách.

Ao chong nang xo dua Bach khoa 01

Hai mẫu áo chống nắng đa năng làm từ xơ tre kháng UV tự nhiên. – Hình: TƯỜNG HÂN

Hiện nay, các loại áo chống nắng trên thị trường đa phần có kiểu dáng thùng thình, kém thẩm mỹ, thậm chí còn gây cản trở tầm nhìn – gây nguy hiểm cho người mặc khi chạy xe.

Để khắc phục tình trạng đó, nhóm nghiên cứu của sinh viên Phan Ngọc Hưng – Khoa Cơ khí, Trường ĐH Bách khoa (ĐHQG-HCM) đã thiết kế ra chiếc áo chống nắng đa năng với tên gọi “Trang phục tuyệt vời cho phụ nữ miền nhiệt đới”.

Áo được thiết kế dạng hoodie (áo thun chui đầu, tay dài, có nón trùm đầu) được giới trẻ ưa chuộng. Ngày nắng, mặc hoodie vào. Tới chỗ râm, chỉ mất vài thao tác, hoodie “hô biến” thành áo thun cổ tròn. Đặc biệt, phần tay áo khi tháo ra có thể dùng làm giỏ xách.

Sản phẩm gồm hai lớp: lớp vải từ xơ tre có tác chống tia UV (cực tím), và lớp vải hiệu năng cao dùng trong trang phục thể thao.

“Hiện tại, các trang phục chống nắng được phủ lớp nano TiO2 có thể bị phai dần sau nhiều lần giặt. Xơ tre là vật liệu có công năng kháng UV tự nhiên, càng giặt thì các sợi vải càng chống nắng tốt hơn, tính chất không giảm theo thời gian.” – đại diện nhóm nghiên cứu chia sẻ.

Tre lại là vật liệu phổ biến, dễ tìm ở Việt Nam. Bước đầu thử nghiệm, do sản lượng ít nên chi phí chế tác khoảng 200-300 ngàn đồng. Nếu được đưa vào sản xuất đại trà, giá thành sẽ còn giảm.

Ao chong nang xo dua Bach khoa 02

Đại diện nhóm nghiên cứu sinh viên Bách khoa thuyết trình về công năng của sản phẩm. – Hình: TƯỜNG HÂN

Mẫu áo này nhận được nhiều sự quan tâm và đánh giá tích cực tại triển lãm Vòng Chung kết EPICS 2018 do Cơ quan Phát triển quốc tế Hoa Kỳ (USAID) tổ chức, thí điểm cho sinh viên bốn trường: Trường ĐH Bách khoa (ĐHQG-HCM), Trường ĐH Bách khoa (ĐH Đà Nẵng), Trường ĐH Công nghiệp TP.HCM, Trường ĐH Lạc Hồng.

Không chỉ đơn thuần sáng tạo ra sản phẩm kỹ thuật – công nghệ phục vụ cộng đồng, nhóm còn phải cho thấy được tính ứng dụng của nghiên cứu thông qua quá trình thử nghiệm và tìm hiểu thị trường.

Cùng với áo chống nắng bằng xơ tre của sinh viên Bách khoa, EPICS còn thu hút nhiều dự án khả thi khác như: giường thông minh giúp nâng đỡ người bệnh, khóa chống trộm balô giá rẻ, thiết bị cảnh báo khoảng cách an toàn cho mắt khi xài máy tính, vườn rau thông minh cho bếp ăn từ thiện…

EPICS là dự án của chính phủ Mỹ, nhằm thúc đẩy sinh viên Việt Nam nhóm ngành STEM (khoa học, công nghệ, kỹ thuật, tính toán) học đi đôi với hành, nghiên cứu – sáng tạo ra các giải pháp kỹ thuật có ích cho cộng đồng.
 

THI CA tổng hợp

Hệ thống chẩn đoán bệnh từ xa của giảng viên Bách khoa

Hệ thống chẩn đoán bệnh từ xa của giảng viên Bách khoa

Công trình của TS. Nguyễn Chí Ngọc đã được ứng dụng rộng rãi tại các bệnh viện lớn như Gia Định, Thống Nhất, Răng – Hàm – Mặt, Huyết học & Truyền máu, Thủ Đức…

Công trình của TS. Nguyễn Chí Ngọc đã được ứng dụng rộng rãi tại các bệnh viện lớn như Gia Định, Thống Nhất, Răng – Hàm – Mặt, Huyết học & Truyền máu, Thủ Đức…

TS. Nguyễn Chí Ngọc (1979) hiện là giảng viên Bộ môn Viễn thông, Khoa Điện – Điện tử, Trường ĐH Bách khoa (ĐHQG-HCM). 

Nguyen Chi Ngoc chan doan benh DH Bach Khoa 01

TS. Nguyễn Chí Ngọc (phải) tại Hội chợ Công nghệ Techmart 2015, Hà Nội. Anh chụp hình lưu niệm cùng TS. Nguyên Quân – nguyên Bộ trưởng Bộ Khoa học & Công nghệ. – Hình: CHÍ NGỌC

NGHIÊN CỨU TỪ NHỮNG ĐIỀU MẮT THẤY, TAI NGHE

Từ năm 2001, TS. Ngọc tập trung phát triển các nền tảng viễn thông như hệ thống tổng đài IP (mạng điện thoại nội bộ dùng giao thức internet), hay hệ thống video conference (sử dụng cho việc họp trực tuyến)…

Bước ngoặt trong hoạt động nghiên cứu khi anh vào thăm người nhà đang điều trị tại bệnh viện. Bốn giờ sáng, những bệnh nhân từ các tỉnh ngoại thành đến TP.HCM khám bệnh. Họ phải chờ từ sáng sớm để lấy số thứ tự và túc trực tại bệnh viện rất lâu để được khám.

“Tại sao không thực hiện việc chẩn đoán và điều trị y tế từ xa giúp tiết kiệm thời gian và chi phí điều trị cho bệnh nhân và bác sĩ” – anh nhớ lại.

Bắt tay vào nghiên cứu với vốn kiến thức chuyên môn có được trong quá trình học tập hai năm tại Trường ĐH Kyung Hee (Hàn Quốc), anh đã xây dựng thành công hệ thống chẩn đoán bệnh từ xa.

Với hệ thống này, các hình ảnh chụp CT, MRI, X-quang, siêu âm… sẽ được hệ thống lưu trữ và truyền hình ảnh (PACS) hoặc hình ảnh trực tiếp từ phòng mổ được tích hợp vào công cụ hội chẩn trực tuyến.

Điều này sẽ giúp bác sĩ hội chẩn trực tuyến giúp chẩn đoán và điều trị từ xa, tiết kiệm thời gian và chi phí điều trị cho bệnh nhân, đặc biệt là những bệnh nhân ở các vùng quê.

Hệ thống cũng sẽ giúp liên kết các bác sĩ của bệnh viện tham gia cùng chẩn đoán ca bệnh, liên kết các bác sĩ của nhiều bệnh viện, linh hoạt sử dụng nguồn nhân lực khi số lượng chuyên gia còn ít.

Các bác sĩ tại Bệnh viện Nhân dân Gia Định sử dụng hệ thống chẩn đoán và điều trị bệnh từ xa do TS. Ngọc nghiên cứu. – Hình: CHÍ NGỌC

Hệ thống này được TS. Ngọc nghiên cứu phát triển từ năm 2009. Trong giai đoạn từ năm 2011-2013, anh bắt đầu thử nghiệm sản phẩm tại Bệnh viện Hồng Đức. Năm 2015, sau quá trình thử nghiệm, sản phẩm của anh đã thương mại hóa và cung cấp cho hàng chục bệnh viện khắp cả nước.

Riêng tại TP.HCM hệ thống chẩn đoán bệnh từ xa đã được ứng dụng tại các bệnh viện lớn như: Bệnh viện Nhân dân Gia Định, Bệnh viện Thống Nhất, Bệnh viện Răng – Hàm – Mặt, Bệnh viện Huyết học & Truyền máu, Bệnh viện Quận Thủ Đức…

CỨNG CÁP Ở TRONG NƯỚC MỚI ĐỦ TỰ TIN RA BIỂN LỚN

“Để có được thành công như hôm nay, quả thật tôi đã không trải qua con đường rải đầy hoa hồng” – TS. Ngọc chia sẻ.

Sản phẩm y tế kỹ thuật cao của anh ra đời trong bối cảnh các thiết bị y tế tại Việt Nam đang bị lấn át bởi nhiều sản phẩm ngoại nhập. Khó khăn hơn nữa, nhiều lãnh đạo các bệnh viện tỏ ra khá e dè với những sản phẩm mới toanh, nghiên cứu trong nước làm ra.

“Tâm lý là họ vẫn thích đồ ngoại với những chương trình hỗ trợ khá hấp dẫn. Có doanh nghiệp tại Mỹ hỗ trợ các bệnh viện dùng thử sản phẩm lên đến ba năm và sau đó mới đàm phán chuyện mua bán. Sản phẩm trong nước phải chịu sự cạnh tranh rất lớn như vậy.” – TS. Ngọc tâm sự.

Với lối suy nghĩ riêng, anh không hề bỏ cuộc mà vẫn tìm ra hướng đi cho những sản phẩm nghiên cứu của mình.

Anh tìm đến những bệnh viện quy mô nhỏ, bệnh viện tư nhân để tiếp cận và giới thiệu sản phẩm. Sản phẩm được kiểm nghiệm và đánh giá bởi hội đồng khoa học của bệnh viện để được đưa vào sử dụng.

Bằng chính uy tín và sự cam kết, sản phẩm của anh đã có mặt tại nhiều bệnh viện lớn nhỏ tại TP.HCM và nhiều tỉnh, thành khác ở Tây Nam Bộ và miền Trung. Đó là thành quả của quãng thời gian hơn chín năm anh kiên định với con đường mình đã chọn.

Điều đặc biệt, đây cũng là kết quả nghiên cứu từ Trường ĐH Bách khoa. Gặp nhiều khó khăn nhưng anh luôn tâm niệm: nhiệm vụ của nhà khoa học là nghiên cứu, nhưng kết quả của những nghiên cứu đó phải giúp ích cho cộng đồng.

 

TS. Ngọc đang làm rất tốt công việc giảng dạy và nghiên cứu cũng như thương mại hóa các nghiên cứu từ trường ĐH– Hình: THẾ AN

TS. Ngọc nói rằng, nhà khoa học đừng chờ đợi một chính sách hay chương trình hỗ trợ nào đó của nhà nước, mà hãy tự chủ động đi theo đam mê nghiên cứu của mình và tin rằng sẽ thành công.

Anh cũng cho rằng, nhà khoa học cần tập trung giải quyết các vấn đề trong nước bằng khoa học rồi hãy mở rộng ra thị trường nước ngoài bằng nhiều cách khác nhau. “Cứng cáp ở trong nước rồi khi đó mình mới đủ tự tin ra biển lớn được.” – TS. Ngọc bày tỏ.

TS. NGUYỄN CHÍ NGỌC – GIẢNG VIÊN TRƯỜNG ĐH BÁCH KHOA

Các sản phẩm nghiên cứu đã được thương mại hóa

  • Thiết bị tổng đài IP và video conference phục vụ hội chẩn y tế tại Bệnh viện Nhân dân 115

  • Ứng dụng công nghệ RFID vào thiết kế và chế tạo thiết bị chấm công tại Trường ĐH Bách khoa

  • Thiết bị tổng đài IP cho Công ty Chứng khoán ACBS, Ngân hàng ACB

  • Ứng dụng công nghệ RFID vào quản lý phương tiện giao thông đường bộ, đăng kiểm ô tô

  • Ứng dụng quản lý nhân sự và chấm công tại Công ty Chứng khoán Phú Gia

  • Thiết bị đầu cuối phục vụ kết nối mạng VoIP 179 của Viễn thông Điện lực

Các giải thưởng tiêu biểu

  • Giải thưởng Nhân tài Đất Việt 2014

  • Giải thưởng Techmart 2015

  • Giải thưởng ASEAN ICT Awards 2015

  • Giải thưởng Tự hào Trí tuệ lao động Việt Nam 2016

 

HÀ THẾ AN (Khám phá)

Ứng dụng ngừa bệnh văn phòng của SV BK-OISP

Ứng dụng ngừa bệnh văn phòng của SV BK-OISP

Mind Your Neck là ứng dụng giúp ngăn ngừa các bệnh về cổ và cột sống. “Chủ xị” nghiên cứu là Lê Đàm Hồng Lộc, SV K2017 chương trình Liên kết Quốc tế ngành Công nghệ Thông tin.

Mind Your Neck là ứng dụng giúp ngăn ngừa các bệnh về cổ và cột sống. “Chủ xị” nghiên cứu là Lê Đàm Hồng Lộc, SV K2017 chương trình Liên kết Quốc tế ngành Công nghệ Thông tin.

Trong vòng hai tháng, nhóm bạn trẻ dưới sự “chỉ huy” của Lê Đàm Hồng Lộc (hình phải) đã sáng tạo ứng dụng Mind Your Neck, giúp người sử dụng điều chỉnh tư thế, “tập thể dục” nhằm giảm các tác hại bệnh lý ở đốt sống cổ.

Lê Đàm Hồng Lộc hiện là sinh viên năm thứ Hai ngành Công nghệ Thông tin – chương trình Liên kết Quốc tế (Trường ĐH Bách Khoa). Lộc từng có tám năm phụ giúp mẹ làm việc tại phòng khám vật ký trị liệu của gia đình.

“Mình đã nhìn thấy rất nhiều người bệnh đến phòng khám chữa đau cổ, đau lưng mỗi ngày, mà nguyên nhân căn bản là do họ ngồi làm việc sai tư thế. Đau lưng, đau cổ ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cuộc sống của mỗi người. Nhận thấy mình có thể sáng tạo ứng dụng, cảnh báo, hỗ trợ mọi người ngồi cho đúng, thế là mình lên kế hoạch, rồi kêu gọi mọi người tham gia thiết kế”, Lộc nói.

Nhóm gồm 10 thành viên: người phụ trách thiết kế, người viết chương trình, người phụ làm blog… Cuối cùng sản phẩm Mind Your Neck được đăng trên hệ điều hành iOS của Apple.

10 thành viên của nhóm đến từ nhiều trường ĐH, THT khác nhau: Lê Đàm Hồng Lộc, Trần Gia Bảo, Lê Nhật Minh, Đặng Thị Quỳnh Như, Nguyễn Thiên An, Trần Thụy Như Quỳnh, Lâm Vĩnh Thịnh, Phan Thị Nguyên Phương, Phạm Thị Ngọc Hòa, Văn Khánh Huyền.

Không chỉ là người viết chương trình, vạch kế hoạch, Lê Đàm Hồng Lộc còn được mẹ (ThS. bác sĩ Đàm Đinh Hồng Hoa, trưởng Khoa Phục hồi Chức năng – Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Yên) làm chuyên gia cố vấn các vấn đề bệnh lý ở cổ cho mình.

Bác sĩ Hoa chia sẻ: “Mỗi ngày có khoảng 100 người đến phòng khám của gia đình tôi điều trị về triệu chứng đau nhức xương khớp. 70% những người thoái hóa đốt sống cổ là nhân viên văn phòng. Bình thường, khi làm việc mọi người ngồi thẳng lưng vuông góc với mặt bàn, thì cổ nghiêng một góc 45 độ là phù hợp. Nếu người ngồi làm việc, nhìn máy tính, điện thoại nghiêng sâu, cúi gập người, lâu dài thì dễ sinh bệnh từ cấp độ 1 đến 5, cao nhất là thoái hóa đốt sống cổ, lưng. Thông thường sau khoảng hai tuần điều trị, tập vật lý trị liệu, điều chỉnh tư thế ngồi làm việc là người bệnh có thể đi lại bình thường, các triệu chứng đau nhức giảm hẳn. Nhưng nếu ngồi làm việc trở lại theo thói quen thì nguy cơ tái phát rất cao”.

Ứng dụng Mind Your Neck sử dụng khá đơn giản: tải về điện thoại, sau khi cài đặt, mỗi lần chủ nhân sử dụng điện thoại, cúi đầu nghiêng góc hơn 45 độ, điện thoại sẽ tự động báo cho người sử dụng biết mình ngồi sai tư thế. Ứng dụng sẽ tự tính được bạn ngồi đúng tư thế bao nhiêu phút đồng thời có thêm các bài tập thể dục cho cổ với biểu tượng chú hươu cao cổ thu hút người dùng.

Sau khi đăng trên Apple Store, sắp tới Lộc và các bạn trong nhóm sẽ cải tiến ứng dụng phù hợp với các thiết bị dùng hệ điều hành Android. Lộc chia sẻ thêm: “Ngoài tập luyện cho cổ, kế hoạch tương lai của mình là hướng đến công nghệ vật lý trị liệu, giảm thiểu các bệnh về mắt, cổ, lưng… bằng app trên di động. Ngừa bệnh bao giờ cũng là phương pháp dễ dàng và ít tốn kém hơn là dùng các biện pháp can thiệp y khoa”.

“Phòng ngừa tốt thì nguy cơ mắc bệnh sẽ ít hơn. Với ứng dụng này, em hy vọng góp chút sức cho cộng đồng, mọi người ai cũng được khỏe mạnh.”

Trần Thụy Như Quỳnh – thành viên nhỏ tuổi nhất trong nhóm

Lộc (đeo mắt kiếng) cùng thành viên trong đội chỉnh sửa code cho ứng dụng.

“Lần đầu tiên được tham gia quá trình làm một ứng dụng di động em cảm thấy rất háo hức. Đọc các tài liệu về bệnh lý, em thấy dù chưa nằm trong nhóm có nguy cơ cao nhưng ngay từ bây giờ phải ý thức ngồi học, làm việc cho đúng tư thế. Phòng ngừa tốt thì nguy cơ mắc bệnh sẽ ít hơn. Với ứng dụng này, em hy vọng góp chút sức cho cộng đồng, mọi người ai cũng được khỏe mạnh”, Trần Thụy Như Quỳnh, thành viên nhỏ tuổi nhất trong nhóm, nói.

Theo một nghiên cứu của Trường Y Harvard (Boston, Mỹ) và Trường ĐH Utah (Mỹ) xuất bản giữa tháng 4/2018 trên Global Spine Journal (Tạp chí nghiên cứu xương khớp toàn cầu), hiện nay mỗi năm có khoảng 266 triệu người bị bệnh về đốt sống cổ và cột sống, chiếm 3,63% dân số thế giới. Nếu lấy con số này so với số người sử dụng smartphone trong độ tuổi từ 18-44 có thể bị bệnh là 2 tỉ người thì số người có thể bị bệnh thoái hóa đốt sống cổ, thoái hóa đốt sống lưng do ngồi sai tư thế khoảng 72,6 triệu người. Thoái hóa cột sống đang là bệnh đứng đầu trong nhóm khiến bệnh nhân mất khả năng vận động.
 

NGUYÊN TRANG (Thanh Niên Online)

Nữ nhi dầu khí đoạt Giải I Hội nghị Nghiên cứu khoa học SV BK-OISP 2018

Nữ nhi dầu khí đoạt Giải I Hội nghị Nghiên cứu khoa học SV BK-OISP 2018

Đó là Bùi Nguyễn Bảo Trâm, SV K2014 ngành Kỹ thuật Dầu khí, chương trình chính quy Chất lượng cao (Trường ĐH Bách Khoa), với đề tài “Khảo sát cơ chế và dự báo sa lắng muối trong giếng khai thác P-1, mỏ X”.

Đó là Bùi Nguyễn Bảo Trâm, SV K2014 ngành Kỹ thuật Dầu khí, chương trình chính quy Chất lượng cao (Trường ĐH Bách Khoa), với đề tài “Khảo sát cơ chế và dự báo sa lắng muối trong giếng khai thác P-1, mỏ X”.

OISP Research Symposium 2018 23

Bùi Nguyễn Bảo Trâm (giữa), SV K2014 ngành Kỹ thuật Dầu khí, chương trình chính quy Chất lượng cao, đạt giải Nhất (Phân ban 2) Hội nghị Nghiên cứu khoa học SV BK-OISP với đề tài “Khảo sát cơ chế và dự báo sa lắng muối trong giếng khai thác P-1, mỏ X”.

Đề tài của Trâm đã đạt Giải Nhất/ Phân ban 2; đồng thời được chọn trình bày tại Hội nghị SEATUC (Hiệp hội các Trường đại học Kỹ thuật Đông Nam Á) 2018 và xuất bản trên ấn phẩm khoa học của hội nghị.

Cô bạn “con nhà người ta” này từng được “lên ti dzi” BK-OISP vì thành tích nghiên cứu khoa học đáng nể và hành trình lựa chọn Bách Khoa đầy éo le (đậu Y Khoa mà bỏ, đi học Bách Khoa).

OISP Research Symposium 2018 01

Từng “chinh chiến ở nhiều hội thảo khoa học quốc tế nên Bảo Trâm rất tự tin khi trình bày đề tài nghiên cứu bằng tiếng Anh. 

► Bùi Nguyễn Bảo Trâm: đậu Y, học Bách, thích thử thách tới cùng

► Nghiên cứu khoa học – không bao giờ là trễ

Hội nghị Nghiên cứu khoa học SV BK-OISP vừa diễn ra hôm 9/6/2018 vừa qua tại Trường ĐH Bách Khoa (ĐHQG-HCM). Đây là sân chơi học thuật thường niên dành cho SV các chương trình đào tạo chính quy học bằng tiếng Anh (Chất lượng cao, Tiên tiến, Liên kết Quốc tế) và chính quy Tăng cường Tiếng Nhật của Bách Khoa. Toàn bộ nội dung nghiên cứu đều được báo cáo và trình bày bằng tiếng Anh.

Năm 2018 có 22 đề tài tham gia tranh tài, trải rộng ở các ngành học như Điện – Điện tử, Địa chất Dầu khí, Xây dựng, Khoa học & Kỹ thuật Máy tính, Quản trị Kinh doanh, Kỹ thuật Hóa học, Môi trường & Tài nguyên, Cơ khí, Kỹ thuật Giao thông…

Nhóm đề tài “Thiết kế hệ thống điều khiển các thiết bị thông minh qua mạng MESH WLAN” của hai SV chương trình Tiên tiến – Kỹ thuật Điện – Điện tử, Nguyễn Thọ Anh Khoa, Tăng Thành Đạt.

Đây là thành quả của một năm (từ tháng 6/2017 – 6//2018) nghiên cứu, tìm tòi, thử nghiệm của các bạn SV. Sản phẩm đầu ra của đề tài phải là một bài báo cáo khoa học để “trình làng” tại Hội nghị Nghiên cứu khoa học SV BK-OISP 2018, cùng với đó là các phẩm công nghệ cụ thể hoặc mô hình mô phỏng thực tế.

Cũng năm 2018, không chỉ số lượng đề tài dự thi tăng (từ 18 lên 22), mà tổng kinh phí cấp cho SV tham gia nghiên cứu khoa học cũng tăng (từ 200 lên 300 triệu đồng). Có những SV đã tham gia hội nghị 2017, năm nay vẫn tiếp tục tham gia với đề tài mới. Điều này cho thấy, ngày càng nhiều SV quan tâm sâu và bắt đầu hành trình nghiên cứu khoa học một cách nghiêm túc.

Mô hình sản phẩm của đề tài “Remotely operated underwater vehicle”.

PGS.TS. Lê Thị Kim Phụng (giữa), Phó Trưởng Khoa Kỹ thuật Hóa học, top 100 nhà khoa học hàng đầu châu Á 2017, thành viên Hội đồng Khoa học.

Các đội thi SV chụp hình lưu niệm cùng Hội đồng Khoa học và Ban Tổ chức.

Gian trưng bày các bảng tóm lược đề tài nghiên cứu của SV.

CÁC ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ĐẠT GIẢI 2018

Phân ban 2

  • Giải Nhì: “Khả năng hấp thụ cadmium, chì và crôm của vi tảo có nguồn gốc Việt Nam”, chủ nhiệm đề tài – Võ Minh Tân (SV K2014 Quản lý Tài nguyên & Môi trường, chương trình Chất lượng cao); đề tài được đăng trên Tạp chí Môi trường Việt Nam, số tháng 6/2018
  • Giải Ba: “Khảo sát ảnh hưởng nhiệt đối với hiện quả xứ lý nước nhiễm mặn sử dụng công nghệ chưng cất màng”, chủ nhiệm đề tài – Phan Ngọc Quỳnh Hương (SV K2016 Kỹ thuật Môi trường, chương trình Chất lượng cao); đề tài được đăng trên Tạp chí Khoa học màng tế bào ứng dụng (Trường ĐH Kỹ thuật Malaysia), số tháng 6/2018
  • Giải Ba: “Trích ly hoạt chất azadirachtin từ cây neem bằng phương pháp chiết Soxhlet và thử nghiệm khả năng kháng khuẩn Vibrio Spp. gây bệnh hoại tử gan trên tôm”, chủ nhiệm đề tài – Nguyễn Trịnh Phương Mai (SV K2016 Kỹ thuật Hóa học, chương trình Liên kết Quốc tế)

Phân ban 1

 

► Xem thêm hình ảnh của các nhóm đề tài tại hội thảo

Tin: THI CA; Ảnh: ĐỨC HÙNG

Hai ĐH Quốc gia VN vào top 1.000 thế giới

Hai ĐH Quốc gia VN vào top 1.000 thế giới

Lần đầu tiên, top 1.000 ĐH xuất sắc nhất thế giới của tổ chức xếp hạng giáo dục quốc tế uy tín QS có tên Trường ĐH Quốc gia TP.HCM (ĐHQG-HCM) và Trường ĐH Quốc gia Hà Nội (ĐHQG-HN).

Lần đầu tiên, top 1.000 ĐH xuất sắc nhất thế giới của tổ chức xếp hạng giáo dục quốc tế uy tín QS có tên Trường ĐH Quốc gia TP.HCM (ĐHQG-HCM) và Trường ĐH Quốc gia Hà Nội (ĐHQG-HN).

Hai DHQGVN vao top 1000 QS the gioi 2018

ĐHQG-HCM thuộc nhóm 701-750 trong top 1.000 ĐH xuất sắc nhất thế giới theo xếp hạng của QS. – Ảnh: QS

Cụ thể, ĐHQG-HCM thuộc nhóm 701-750, và ĐHQG-HN thuộc nhóm 801-1000.

Chào đón tin vui này, GS.TS. Phan Thanh Sơn Nam – trưởng Khoa Kỹ thuật Hóa học, Trường ĐH Bách Khoa (ĐHQG-HCM), chia sẻ trên trang cá nhân: “Dù thứ hạng khiêm tốn nhưng mình phải dành cả tuổi thanh xuân để chờ đợi tin vui này… Dĩ nhiên đây là tin vui cho ĐHQG-HCM và cho cả VN. Vui một chút nhưng ưu tư nhiều hơn, vì lọt vào QS của thế giới đã khó, nhưng trụ hạng và nâng hạng còn khó hơn bội phần. Để làm được điều đó, (1) phải “vắt kiệt sức” các nhóm nghiên cứu mạnh bằng cách tạo mọi điều kiện cho họ; (2) điều chỉnh những chính sách chưa “hợp lòng người”, chứ không phải ép lòng người vào khuôn phép của chính sách.”

Từ phía ĐHQG-HN, GS.TS. Nguyễn Hữu Đức – phó giám đốc, khẳng định QS là bảng xếp hạng uy tín và đầy đủ các tiêu chí đánh giá về đào tạo, nghiên cứu, và mức độ quốc tế hóa.

“Xếp hạng chỉ là một trong các chỉ số đo lường chất lượng, nhưng quan trọng ở chỗ nó cho phép đối sánh để biết ĐH chúng ta đang ở đâu trên bản đồ thế giới”, GS. Đức nói.

Năm 2018, Tổ chức QS đã xem xét dữ liệu của hơn 4.700 trường ĐH từ 151 quốc gia. Sau vòng sơ loại, còn 1.233 trường được tiếp tục đối sánh.

Kết quả, 1.000 trường ĐH xuất sắc nhất toàn cầu được xướng tên. Trong bảng xếp hạng này, có 60 trường ĐH lần đầu được vinh danh, trong đó có ĐHQG-HCM và ĐHQG-HN.

Dữ liệu xếp hạng của QS dựa trên ý kiến khảo sát của 1,2 triệu nhà khoa học và 200.000 nhà tuyển dụng, số bài báo Scopus tính trong năm năm (2011-2016) và số trích dẫn tính cho giai đoạn 2012-2017.

Theo GS. Đức, kết quả này khẳng định chất lượng và uy tín đào tạo, nghiên cứu của hai trường ĐHQGVN đã hội nhập sâu với quốc tế, được các nhà khoa học và tuyển dụng trên thế giới biết đến và thừa nhận nhiều hơn. Các công trình nghiên cứu cũng được trích dẫn cao hơn, có tầm ảnh hưởng rộng hơn.

Có thể thấy, “quan điểm và hành động đổi mới giáo dục ĐH đang đi đúng theo hướng chuẩn hóa và hội nhập quốc tế. Trường nào kiên định với chất lượng sẽ có thành quả xứng đáng. Nhà nước cần tin tưởng để đầu tư mạnh hơn nữa cho giáo dục ĐH”, GS. Đức nhấn mạnh.

Vui với thành tựu, GS. Đức vẫn không quên mối trăn trở giống người đồng nghiệp từ ĐHQG-HCM về điểm bất cập cốt tử của các trường ĐHVN: nghiên cứu và công bố quốc tế.

“Văn hóa công bố quốc tế cần phải được xác lập mạnh mẽ hơn ở các trường ĐH. Để hỗ trợ sự tăng trưởng này, các quỹ và chương trình nghiên cứu của VN cần được tăng cường và các trường ĐH cần phải được ưu tiên đầu tư như đối với các tổ chức khoa học công nghệ”, GS. Đức nhấn mạnh.

QS là một trong ba bảng xếp hạng uy tín nhất trên thế giới (cùng với ARWU của Trường ĐH Giao thông Thượng Hải, và THE của Báo Times Higher Education).

Các tiêu chí xếp hạng của QS thế giới nghiêng nhiều về trọng số nghiên cứu. Ví dụ, tỉ trọng về tiêu chí đánh giá của các nhà khoa học đã tăng lên mức 40%.

Ngoài ra, QS thế giới không đánh giá theo số lượng bài báo mà tập trung đánh giá số lần trích dẫn của các bài báo trên tổng số giảng viên (20%).

Song song đó, các tiêu chí quốc tế hóa tập trung vào số lượng giảng viên và sinh viên quốc tế trực tiếp tham gia giảng dạy và học để lấy bằng tại trường (10%).

 

THI CA tổng hợp

Giảng viên Bách khoa vào top 100 nhà khoa học châu Á 2018

Giảng viên Bách khoa vào top 100 nhà khoa học châu Á 2018

GS.TS. Phan Thanh Sơn Nam – Trưởng Khoa Kỹ thuật Hóa học, Trường Đại học Bách khoa (ĐH Quốc gia TP.HCM) vừa được Tạp chí Khoa học Asian Scientist (Singapore) bình chọn là một trong “100 Nhà Khoa học tiêu biểu châu Á 2018”.

GS.TS. Phan Thanh Sơn Nam – Trưởng Khoa Kỹ thuật Hóa học, Trường Đại học Bách Khoa (ĐH Quốc gia TP.HCM) vừa được Tạp chí Khoa học Asian Scientist (Singapore) bình chọn là một trong “100 Nhà Khoa học tiêu biểu châu Á 2018”.

Phan Thanh Son Nam top 100 Asian Scientists 2018 01

GS.TS. Phan Thanh Sơn Nam Trưởng Khoa Kỹ thuật Hóa học, Đại học Bách Khoa, một trong 100 Nhà Khoa học tiêu biểu châu Á 2018. – Ảnh: TTXVN

LÀM KHOA HỌC PHẢI GIỮ TÂM TRẠNG VUI VẺ

* Hay tin mình có tên trong danh sách “100 Nhà Khoa học tiêu biểu châu Á 2018”, cảm xúc của giáo sư thế nào?

– Tôi hơi bất ngờ. Vì những năm trước các giải thưởng ở Việt Nam chưa bao giờ được xuất hiện trên Asian Scientist. Tôi cũng vui vì tiếng vang của Giải thưởng Tạ Quang Bửu đã bắt đầu vượt ra khỏi biên giới Việt Nam.

Lúc nộp hồ sơ tham gia giải thưởng, tôi chỉ nghĩ là mình có bổn phận phải góp tay góp sức quảng bá cho nghiên cứu cơ bản ở Việt Nam. Còn được giải thì vui cho mình, không được giải thì vui cho đồng nghiệp.

Vì làm khoa học cần phải luôn giữ tâm trạng vui vẻ thì kết quả nghiên cứu mới tốt. Tôi luôn trân trọng những ai và những sự kiện gì có thể góp phần thúc đẩy nghiên cứu cơ bản.

Vì nếu không có sự chuyển biến của nghiên cứu cơ bản trong mười năm qua, tôi và nhiều anh chị em đồng nghiệp hoặc tiếp tục bôn ba ở nước ngoài, hoặc đã an phận từ bỏ đam mê của mình.

* Giáo sư cho rằng “đây chỉ là mang tính giao lưu tình thương mến thương” trong khi danh sách này có tên nhiều nhà khoa học các trường nổi tiếng của châu Á?

– Bảng top 100 của Asian Scientist năm 2018 vinh danh những nhà khoa học ở châu Á có giải thưởng quốc tế hoặc giải thưởng quốc gia trong năm 2017. Dĩ nhiên không phải giải thưởng nào cũng được Asian Scientist đưa vào top 100 mà chỉ các giải thưởng có quá trình chọn lựa với tính cạnh tranh cao mới được xem xét.

Về một góc độ nào đó, top 100 của Asian Scientist năm 2018 chỉ thể hiện rằng những nhà khoa học đó được nhiều người biết đến trong năm 2017.

Giải thưởng Tạ Quang Bửu đã có từ năm 2014. Tuy nhiên trong những năm đó lại có nhà khoa học Việt Nam đoạt các giải thưởng khác được nhiều người biết đến hơn, nên Giải thưởng Tạ Quang Bửu chưa có cơ hội xuất hiện trên Asian Scientist.

Xin lưu ý top 100 này chỉ có ý nghĩa về mặt cộng đồng. Có thể tạm hiểu là 100 nhà khoa học tiêu biểu được cộng đồng chú ý nhiều trong năm.

Để có thể tạm thời xếp hạng các nhà khoa học, phải dựa vào thông lệ quốc tế. Ví dụ như số lượng và chất lượng công bố SCI/SCIE, số lượng và chất lượng patent, chỉ số H, dù những con số này cũng chưa thật sự hoàn hảo.

“Tôi mong muốn phòng thí nghiệm của chúng tôi sẽ là bệ phóng đưa SV vươn ra biển lớn, có thể sánh vai với bạn bè cùng trang lứa khắp năm châu bốn bể.” – GS.TS. Phan Thanh Sơn Nam

GS.TS. Sơn Nam trong danh sách “100 Nhà Khoa học tiêu biểu châu Á 2018” được công bố trên website asianscientist.com.

GS.TS. Sơn Nam (thứ hai từ phải qua) nhận Giải thưởng Tạ Quang Bửu 2017. Ảnh: TTXVN

* Tạp chí Asian Scientist “hy vọng sự thành công của 100 nhà khoa học tiêu biểu châu Á sẽ truyền cảm hứng cho các nhà khoa học trẻ ở châu Á hướng tới sự xuất sắc trong khoa học”. Với giáo sư, niềm hy vọng đó là gì?

– Tôi cũng không có hy vọng điều gì lớn lao, chỉ mong sao có thêm nhiều SV chấp nhận đi theo con đường nghiên cứu khoa học như chúng tôi. Hiện tại, số lượng SV giỏi có ý định tiếp bước chúng tôi khá hiếm hoi.

Phần thì cần phải kiếm tiền vì gánh nặng kinh tế của gia đình, phần thì chưa nhận bằng kỹ sư đã được nhiều công ty mời gọi làm việc với mức lương hấp dẫn. Phần thì viễn cảnh không mấy sáng sủa khi chấp nhận đi theo con đường nghiên cứu khoa học.

Chính vì vậy, được em nào chịu khó đam mê nghiên cứu, tôi đều rất quý và luôn tạo mọi điều kiện để các em có thể bay cao bay xa hơn mình.

MUỐN DẠY TRÒ GIỎI THỈ MÌNH PHẢI HỌC MỖI NGÀY

* Giáo sư là một trong những giảng viên có nhiều công bố quốc tế. Đâu là bí quyết?

– Thật ra tôi không có bí quyết gì cả, chỉ xin chia sẻ một vài trải nghiệm của bản thân thôi. Khi làm nghiên cứu sinh ở ĐH Sheffield (Anh), nhìn thầy hướng dẫn vất vả xin kinh phí, vất vả sửa bài báo do mình viết và vất vả chỉnh sửa bài báo theo yêu cầu của các phản biện, tôi đã nghĩ rằng đến một ngày nào đó, mình cũng phải làm những việc thầy đang làm.

Tôi chú ý học hỏi luôn cả cách thầy sửa bài cho mình, học hỏi cách thầy trả lời phản biện. Đến khi làm nghiên cứu sau tiến sĩ tại Viện Công nghệ Georgia (Hoa Kỳ), bên cạnh việc nghiên cứu mỗi ngày, tôi cũng phải tiếp tục học như vậy.

Đó chỉ là cách viết bài thôi. Thật sự điều quan trọng nhất vẫn là ý tưởng nghiên cứu phải hay. Mà muốn có ý tưởng hay thì phải luôn đọc báo chuyên ngành để cập nhật kiến thức mỗi ngày. Tôi may mắn có nhiều học trò giỏi. Muốn hướng dẫn được học trò giỏi thì bản thân mình cũng phải lo học mỗi ngày.

Hướng dẫn học trò giỏi, mà thường phải làm theo ý tưởng mới, thật sự nhiều lúc mình phải “chạy” theo học trò mệt đứt hơi. Điều này chỉ có những người trong cuộc mới thấm thía nhất thôi.

SV Bách Khoa trong giờ thí nghiệm. – Ảnh: NHƯ HÙNG

* Trong nghiên cứu hiện nay, giáo sư gặp khó khăn gì?

– Để có thể nghiên cứu tốt, cần phải có ít nhất ba yếu tố. Một là nhân lực tốt, hai là phòng thí nghiệm tốt và ba là phải có kinh phí nghiên cứu hằng năm.

Về nhân lực, tôi may mắn có những học trò giỏi. Tuy nhiên, khác với đồng nghiệp ở nước ngoài, những học trò giỏi này chỉ gắn bó với mình một thời gian ngắn rồi các em đó đi du học. Và nhóm chúng tôi luôn bị động về nhân lực.

Về phòng thí nghiệm, nhóm chúng tôi may mắn được ĐH Quốc gia TP.HCM đầu tư phòng thí nghiệm tạm ổn. Tuy nhiên, phòng thí nghiệm chúng tôi đang quá tải, nhiều học trò của tôi chỉ có thể làm thí nghiệm 2-3 ngày trong tuần, thời gian còn lại phải nghỉ vì các thiết bị cần thiết đã hoạt động hết công suất.

Tôi thật sự rất trăn trở vì điều này khi những em giỏi không có điều kiện làm việc hết năng suất. Bên cạnh đó, việc các trang thiết bị đang xuống cấp cần phải bảo trì bảo dưỡng hay sửa chữa hằng năm cũng là một khó khăn chung cho tất cả các nhóm nghiên cứu ở Việt Nam.

Về kinh phí nghiên cứu hằng năm, hiện tại nhóm chúng tôi có kinh phí từ các đề tài của ĐH Quốc gia TP.HCM và từ Quỹ Nafosted. Tuy nhiên, nếu được vắt kiệt sức cho khoa học, nhóm nghiên cứu chúng tôi cần nhiều hơn thế.

Sau cùng, cũng cần phải nhắc lại, với hơn 10 năm khá vất vả với các quy định tài chính khi làm nghiên cứu khoa học, tôi thật sự mong muốn Việt Nam sớm có một cơ chế tài chính thật gọn nhẹ mà hiệu quả. Để các nhà khoa học có thể toàn tâm toàn ý dành trọn thời gian vào các hoạt động chuyên môn.

ĐƯỢC CÔNG NHẬN GIÁO SƯ NĂM 37 TUỔI

GS.TS. Phan Thanh Sơn Nam (sinh năm 1977), Trưởng Khoa Kỹ thuật Hóa học, Trưởng Phòng Thí nghiệm nghiên cứu cấu trúc vật liệu Trường ĐH Bách khoa (ĐH Quốc gia TP.HCM) là người trẻ nhất được công nhận chức danh giáo sư vào năm 2014 – khi đó mới 37 tuổi.

Từ năm 2004 đến nay, GS.TS. Sơn Nam cùng nhóm nghiên cứu đã công bố được 74 bài báo khoa học trên tạp chí quốc tế ISI và 89 bài báo đăng trên các tạp chí trong nước.

Cùng với GS. Nam, người Việt thứ hai có tên trong danh sách “100 Nhà Khoa học tiêu biểu châu Á 2018” của Tạp chí Asian Scientist là PGS.TS. Nguyễn Sum – giảng viên Khoa Toán, ĐH Quy Nhơn (Bình Định).

 

► Giảng viên Bách Khoa đạt Giải thưởng Tạ Quang Bửu 2017

► Phan Thanh Sơn Nam – giáo sư trẻ nhất năm 2014

TRẦN HUỲNH (TTO)